Các vi chất dinh dưỡng và những phụ nữ có khả năng sinh sản: bổ sung chế độ ăn theo yêu cầu và hậu quả của việc thiếu hụt hoặc vượt quá giới hạn trong chế độ ăn

J Matern Fetal Neonatal Med. Ngày 14 tháng 4 năm 2010 [Epub ahead of print]

Simpson JL, Bailey LB, Pietrzik K, Shane B, Holzgreve W.
Trường đại học quốc tế Florida, Trường đại học về y khoa, Miami 33199 USA.

Phần thứ hai của tài liệu này tập trung vào các vi chất dinh dưỡng bổ sung mà phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ nên bổ sung lượng vừa đủ trong chế độ ăn của họ. Nó rất quan trọng để duy trì trạng thái dinh dưỡng tối ưu trong suốt độ tuổi sinh đẻ để đảm bảo sự phát triển của thai nhi được bình thường.

Vitamin D là một vitamin có thể hoà tan trong chất béo được tìm thấy trong các loại thức ăn có nguồn gốc từ động vật (cá béo, dầu gan) hoặc trong các sản phẩm tăng cường (sữa, phomát). Nguồn chính của Vitamin D không phải từ bữa ăn, mà được tổng hợp bởi cơ thể khi da tiếp xúc với tia cực tím B (có bước sóng từ 290 đến 315nm). Lượng bổ sung vừa đủ vitamin D cho nam giới và phụ nữ trong độ tuổi 19 – 50 là 5mcg (200IU)/ngày. Viện Y khoa hiện nay đang xem xét lại nhu cầu khuyến nghị hàng ngày đối với vitamin D vì có bằng chứng mới cho rằng 200IU/ngày không đủ trong thời gian mang thai để đạt tới nồng độ 50nmol/L trong máu, đặc biệt là đối với phụ nữ gốc Phi – Mỹ ở các vùng miền phía bắc. Tình trạng thiếu hụt vitamin D là phổ biến ở những phụ nữ gốc Phi – Mỹ sống ở những vùng miền phía bắc. Việc thiếu hụt vitamin D trong thời gian dài sẽ dẫn đến quá trình khử khoáng của xương, gây ra bệnh còi xương ở trẻ sơ sinh và trẻ em và chứng nhuyễn xương ở người lớn. Việc bổ sung vitamin D được yêu cầu để đạt được nồng độ 25-(OH)D3 mong muốn là >50 nmol/L. Vì vậy, trong thời gian mang thai, tình trạng vitamin D dinh dưỡng vừa đủ đóng vai trò then chốt đối với sự phát triển xương của thai nhi, sự hình thành men răng và sự sinh trưởng và phát triển của bào thai nói chung. Bổ sung vitamin D quá mức trong thời gian mang thai không bị cho là gây quái thai.

Tiền Vitamin A có ở trong thực phẩm có nguồn gốc động vật, các tiền tố vitamin (Beta-carotenoids) có trong thực vật (quả và rau). Vitamin A đóng vai trò quyết định đối với rất nhiều chức năng: thị lực, khả năng sinh sản, khả năng miễn dịch, da và tính toàn vẹn của biểu mô. Liều khuyến nghị hàng ngày (RDA) đối với phụ nữ không mang thai là 100mcg đương lượng hoạt tính retinol (RAE) và đối với phụ nữ mang thai là 770mcg. Mức tối đa cho phép cơ thể dung nạp trong một ngày đối với người lớn là 3000mcg đối với vitamin A dạng tạo thành trước. Trong quá trình mang thai, nhu cầu về vitamin A cao hơn do nhu cầu tăng lên đối với sự phát triển của bào thai. Ở những phụ nữ mang thai được bổ sung dinh dưỡng tốt, nhu cầu về vitamin A thường có thể thu nhận được qua chế độ ăn. Ở Mỹ và các nước công nghiệp khác, hiện tượng thiếu hụt vitamin A là không phổ biến. Tuy nhiên, việc thiếu hụt vitamin A là vấn đề chính ở nhiều nước đang phát triển. Việc bổ sung Vitamin A không nên vượt quá 3000mcg (10,000IU). Các dấu hiệu phổ biến nhất của việc thiếu hụt vitamin A là chứng quáng gà và chứng khô mắt (một căn bệnh y khoa mà mắt không thể sản xuất nước mắt). Trong kỳ ba tháng mang thai cuối, vitamin A bắt đầu tích luỹ trong thai nhi, cho thấy nhu cầu của thai nhi. Bổ sung vừa đủ vitamin A trong một vài tháng sau khi sinh là cần thiết để tích luỹ nguồn dự trữ trong gan vừa đủ. Thành phần sữa mẹ bị ảnh hưởng bởi tình trạng vitamin A của mẹ trong kỳ ba tháng mang thai cuối. Sau một vài tuần đầu tiên của cuộc đời, hiện tượng thiếu hụt vitamin A của trẻ sơ sinh có thể xảy ra nếu tình trạng vitamin A của người mẹ đang cho con bú thấp.

Sắt ở dạng haem-iron có mặt trong thịt, cá và thịt gia cầm; sắt ở dạng none-haem (vô cơ) được tìm thấy trong rau, quả và hạt ngũ cốc. Thiếu hụt sắt là thiếu hụt dinh dưỡng phổ biến nhất trên thế giới và là một nguyên nhân chính của bệnh thiếu máu trong khi mang thai. Việc bổ sung sắt có thể được yêu cầu ở kỳ ba tháng cuối, giai đoạn trước khi mang thai hoặc ở những phụ nữ không mang thai nhưng có nồng độ sắt huyết thanh <20 mug/L hoặc haemoglobin <10.9 g/dL. Lượng khuyến nghị hàng ngày đối với thai kỳ là 27mg/ngày. Nhu cầu về sắt tăng lên trong khi mang thai vì có sự tăng khối hồng cầu, đa phần xảy ra ở kỳ ba tháng cuối. Liều khuyến nghị hàng ngày đối với phụ nữ cho con bú là 10mg/ngày. Mức tối đa cho phép cơ thể dung nạp trong một ngày đối với người lớn là 45mg sắt /ngày. Triệu chứng kinh điển của việc thiếu hụt sắt là chứng thiếu máu tiểu hồng cầu. Thiếu hụt sắt là một vấn đề chính ở các nước đã phát triển. Thiếu hụt sắt gây ra rất nhiều ảnh hưởng sinh lý như chức năng miễn dịch bị suy giảm, mệt mỏi, khả năng làm việc bị giảm sút và suy yếu khả năng nhận thức. Chứng thiếu máu rất phổ biến trong khi mang thai, Tổ chức Y tế Thế giới ghi nhận chứng thiếu máu xảy ra ở trung bình 56% phụ nữ mang thai ở các nước đang phát triển và 18% phụ nữ ở những nước công nghiệp hoá. Đa số những phụ nữ này bị thiếu máu trước khi thụ thai. Chứng thiếu máu trong nửa đầu tiên của thai kỳ có liên quan tới việc cân nặng khi sinh thấp, sinh non và lượng sắt dự trữ trong trẻ sơ sinh thấp. Các thử nghiệm trên một cỡ mẫu lớn những phụ nữ bị thiếu hụt sắt cho thấy bổ sung sắt giúp cải thiện cân nặng khi sinh. Điều này rất quan trọng và có lợi để quá trình mang thai có lượng dự trữ sắt tốt. Việc bổ sung sắt cho phụ nữ mang thai nên dựa trên tình trạng sắt của họ. Trường đại học Mỹ đào tạo các bác sĩ sản và phụ khoa khuyến nghị rằng tất cả các phụ nữ mang thai nên được kiểm tra đối với bệnh thiếu máu và những người bị thiếu sắt cần phải điều trị bổ sung thêm sắt.

Kẽm là một nguyên tố vi lượng cần thiết; nó có vai trò xúc tác hoặc tạo cấu trúc trong hơn 300 enzyme và protein. Các enzyme và protein này có vai trò quan trọng trong quá trình sinh trưởng và phát triển, hoạt động chức năng thần kinh, hệ miễn dịch và hệ sinh sản. Một số nghiên cứu đã  khẳng định về việc giảm các biến chứng thai kỳ khi bổ sung thêm kẽm. Việc bổ sung đối với kẽm là không cần thiết vì nó có sẵn trong thịt đỏ, hải sản (ví dụ như hàu) và các hạt ngũ cốc chưa xát bóng.

Iốt là một nguyên tố cần thiết cho quá trình tổng hợp của các hormone tuyến giáp: thyroxine và triiodothyronine. Các hormone tuyến giáp có chức năng quyết định trong quá trình chuyển hoá. Lượng iốt trong nước tiểu phản ánh rõ lượng iốt hấp thu qua bữa ăn; lượng này trên 100mcg/L được coi là vừa đủ. Liều khuyến nghị hàng ngày đối với thai kỳ là 220mcg/ngày và đối với khi cho bú là 290mcg/ngày. Thiếu hụt iốt là một vấn đề y tế lớn ở hấu hết tất cả các nước. Có khoảng 2 tỉ người trên khắp thế giới nằm trong nguy cơ thiếu hụt iốt. Thời gian nhạy cảm nhất đối với việc thiếu hụt iốt là trong khi mang thai. Trong kỳ ba tháng đầu tiên và thứ hai, việc cung cấp hormone tuyến giáp đối với thai nhi chủ yếu là từ người mẹ. Việc thiếu hụt sẽ dẫn đến sẩy thai tự phát, thai chết lưu, dị tật và tăng tỉ lệ tử vong chu sinh. Trẻ sơ sinh có thể bị bướu cổ, chậm phát triển trí óc và mắc chứng đần độn. Để đảm bảo bổ sung iốt đầy đủ, thực phẩm khắp nơi phải được tăng cường thêm muối iốt. Nếu lượng iốt trong nước tiểu thấp, cần phải bổ sung thêm.

Yêu cầu về các axit béo cần thiết có thể được đáp ứng bằng các ăn thêm một hoặc hai phần cá mỗi tuần. Lipid là thành phần cấu tạo nổi bật của mô não (khoảng 50%) và việc các axit béo chất lượng cao luôn sẵn có với lượng vừa đủ đối với quá trình phát triển bào thai là rất quan trọng. Quá trình phát triển não bộ tăng nhanh trong nửa thứ hai của thai kỳ và tiếp tục cho đến cuối thời kỳ thanh niên. DHA là axit béo dồi dào nhất trong não người, tương ứng với tầm quan trọng của nó trong cấu trúc và hoạt động chức năng của não bộ và quá trình phát triển của hệ thần kinh. Có một mối quan hệ giữa việc người mẹ ăn cá có nhiều mỡ, hoặc dầu cá nhằm cung cấp n-3 LC-PUFA và sự phát triển của thị lực và nhận thức của đứa trẻ. Uỷ ban Châu Âu gần đây đã ủng hộ các khuyến nghị dựa trên việc xem xét một cách có hệ thống các tài liệu liên quan và sự thống nhất của chuyên gia trong đó bao gồm các khuyến nghị mà phụ nữ mang thai và đang cho con bú nên tập trung vào để đạt được lượng bổ sung DHA trung bình tối thiểu là 200mg/ngày.

Nhiều nghiên cứu can thiệp cho thấy các sản phẩm bổ sung có chứa đầy đủ các đa vitamin và khoáng chất giúp cải thiện các thông số của thai kỳ trong những nhóm đối tượng có nguy cơ cao.

 

Chia sẻ bài viết:Share on Facebook0Tweet about this on TwitterShare on Google+0Email this to someoneBuffer this pageShare on LinkedIn0Digg thisShare on Reddit0