Khám phá thêm ích lợi của các dưỡng chất trong thai kỳ

Khám phá thêm ích lợi của các dưỡng chất trong thai kỳ

Nghiên cứu tiếp tục cho thấy ảnh hưởng của chế độ dinh dưỡng của người mẹ đối với cuộc sống của con họ. Tỉ lệ mắc các bệnh khác nhau vẫn tăng lên mỗi năm, khi liên kết lại, chúng đều thấy có sự góp phần của tình trạng dinh dưỡng của người mẹ. Mặc dù đã có ý thức về chế độ dinh dưỡng trước khi mang thai, nhưng tình trạng không đủ các axit béo omega-3, iốt, vitamin D và axit folic vẫn còn tồn tại và như nghiên cứu mới đang minh chứng, các dưỡng chất này còn có thêm rất nhiều lợi ích khác so với những tác dụng trước đây đã đề cập đến. Ở đây chúng ta sẽ xem xét những tác dụng mà bằng chứng gần đây đang đưa ra.

Thiếu hụt iốt nhẹ có thể ảnh hưởng tới sự phát triển thần kinh

Iốt đóng vai trò quan trọng trong quá trình phát triển não của thai nhi. Thiếu hụt iốt là nguyên nhân hàng đầu của bệnh chậm phát triển trí óc có thể phòng ngừa được. Trước năm 2009, tỉ lệ thiếu hụt iốt là 71% ở phụ nữ mang thai Úc với nồng độ iốt niệu trung vị khoảng 81-87μg/L, nồng độ này thấp hơn nhiều so với mức đủ (150μg/L) [1-3]. Năm 2009 chương trình tăng cường bắt buộc muối iốt trong bánh mì được đưa ra ở Úc, nhưng các nghiên cứu gần đây đang cho thấy chương trình này chỉ có tác dụng nhẹ, giúp cải thiện nồng độ iốt niệu trung vị ở phụ nữ mang thai từ 87μg/L trong năm 2008 lên 122μg/L trong năm 2012 (vẫn thấp hơn mức đủ) [2]. Tuy nhiên, đối với những phụ nữ đã dùng sản phẩm bổ sung có chứa iốt, thì mức trung vị này nhảy vọt lên 202μg/L [2]. Việc sử dụng các sản phẩm bổ sung cho thai kỳ có chứa iốt tăng từ 20% lên 66% trong bốn năm qua [2].

Trong một nghiên cứu lâm sàng khác, phụ nữ mang thai bị thiếu hụt iốt nhẹ được lựa chọn để quan sát ảnh hưởng của việc tăng cường muối iốt trong bánh mì cùng với các sản phẩm bổ sung có chứa iốt. Mức iốt trung vị của những phụ nữ không dùng các sản phẩm bổ sung vẫn giữ ở khoảng thiếu hụt nhẹ (<90μg/L) vì việc tăng cường iốt trong bánh mì chỉ làm tăng mức iốt thêm 16μg/L. Ngược lại, mức iốt trung vị của những phụ nữ có dùng các sản phẩm bổ sung có chứa iốt đã đạt tới mức đủ vào cuối cuộc thử nghiệm, tăng nồng độ trung vị thêm 87μg/L. Điều này có nghĩa là việc tăng cường iốt vào bánh mì chỉ đem lại những lợi ích nhỏ, nhưng đối với đa số trường hợp bị thiếu hụt  iốt nhẹ, vẫn cần phải bổ sung thêm. Thiếu nhận thức là một vấn đề chính vì có 78% phụ nữ mang thai không ý thức được rằng thiếu hụt iốt là một vấn đề ở Úc và không có gì đáng ngạc nhiên khi chỉ có 3,7% số phụ nữ biết được rằng bánh mì đã được tăng cường iốt [1].

Trong khi ảnh hưởng của việc thiếu hụt iốt nặng đã được xác minh rõ, có bằng chứng gần đây cho thấy tình trạng thiếu hụt iốt từ nhẹ đến trung bình trong khi mang thai có thể làm giảm  đáng kể quá trình phát triển trí óc của trẻ. Trẻ có mẹ bị thiếu iốt từ nhẹ đến trung bình cho thấy có điểm cao hơn đáng kể trong các thang điểm vấn đề về sự kiềm chế và trí nhớ làm việc và việc giảm khả năng diễn đạt trong chức năng điều hành ở trẻ lên 4 so với những trẻ có mẹ có tình trạng iốt đủ [4]. Nghiên cứu khác cho thấy trẻ ở độ tuổi lên chín có các chỉ số giáo dục về đánh vần, ngữ pháp và đọc thấp hơn đáng kể nếu mẹ của chúng bị thiếu hụt iốt từ nhẹ đến trung bình trong khi mang thai so với những đứa trẻ có mẹ có tình trạng iốt đủ khi mang thai. Điều này đã được quan sát thấy mặc dù tất cả mọi đứa trẻ đều có lượng iốt bình thường tại thời điểm thử nghiệm [3].

Bổ sung thêm thông tin về lợi ích của các axit béo omega-3

Các axit béo omega-3 thiết yếu, axit docosahexaenoic (DHA) và axit eicosapentaenoic (EPA), đóng một vai trò quan trọng trong quá trình phát triển thai nhi và sức khỏe của người mẹ. Quá trình phát triển não của thai nhi phụ thuộc vào DHA, đặc biệt trong quý cuối của thai kỳ khi đó DHA đóng vai trò then chốt trong quá trình hình thành tế bào thần kinh. Sau khi sinh, trong thời gian cho con bú, DHA cần cho quá trình hình thành synap. Bằng chứng về lâm sàng cho thấy việc bổ sung cho người mẹ có thể cải thiện được khả năng nhận thức của con, quá trình phát triển trí óc, xử lý thông tin, khả năng học tập, hành vi, độ tập trung, độ hiểu biết, chú ý, giải quyết vấn đề, kiểm soát vận động và thị lực [5]. DHA và EPA cũng tham gia vào quá trình điều hòa và phát triển miễn dịch, khi đó việc bổ sung cho mẹ có liên quan đến việc giảm thiểu nguy cơ bị dị ứng, hen suyễn và nhiễm trùng đường hô hấp [5]. Có lo ngại về việc tăng tỉ lệ mắc các rối loạn về hành vi và khả năng học tập phát triển theo tuổi cũng như các bệnh dị ứng có thể có liên quan tới các thiếu hụt lượng omega-3 ở người mẹ. Các axit béo omega-3 cũng có thể hỗ trợ sức khỏe của người mẹ bằng việc giảm nguy cơ bị các hội chứng chuyển hóa, đái tháo đường thai kỳ và tiền sản giật trong khi mang thai thông qua các tác dụng chống viêm và bằng cách kiểm soát chứng rối loạn lipid máu, làm giảm lượng dự trữ mỡ và tăng đốt cháy mỡ để giảm béo phì trung tâm và giúp làm giảm nguy cơ cao huyết áp và lượng đường huyết lúc đói cao [6, 7].

Hội đồng thuận châu Âu, Hiệp hội Quốc tế nghiên cứu về các axit béo và Lipid (ISSFAL) và Trung tâm Omega-3 của Úc & New Zealand khuyến nghị phụ nữ nên dùng 200-300mg DHA một ngày trong thời gian mang thai và cho con bú [8]. Tuy nhiên, phụ nữ mang thai ở Úc đang rơi vào tình trạng bị thiếu nhiều so với khuyến nghị này, mức sử dụng trung bình là 99mg DHA/ngày [8]. Cá và hải sản là nguồn DHA quan trọng duy nhất qua chế độ ăn, nhưng nó lại có đặc điểm là không được dùng thường xuyên, thậm chí đối với một số gia đình còn rất dè xẻn. Vấn đề này càng trở nên tồi tệ hơn do lo sợ bị nhiễm kim loại nặng trong hải sản trong khi mang thai, cuối cùng dẫn đến việc lượng dùng axit béo omega-3 quá thấp trong giai đoạn then chốt này. Điều này nhấn mạnh ảnh hưởng quan trọng mà việc bổ sung thêm có thể giúp ích thật sự cho nhóm phụ nữ mang thai / đang cho con bú. Các sản phẩm bổ sung có lượng DHA cao đặc biệt có lợi đối với nhóm này và có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với những người không thích ăn hải sản / cá thường xuyên, những người này xem ra lại chiếm đại đa số phụ nữ.

Vitamin D xứng đáng được coi trọng hơn nữa

Ngoài vai trò đối với sức khỏe của xương, Vitamin D còn giữ nhiều vai trò then chốt trong thời gian mang thai và trong quá trình phát triển của bào thai. Calcitriol, một dạng hoạt tính sinh học của vitamin D, là một neurosteroid kiểm soát sự tăng trưởng của não bộ từ giai đoạn bào thai. Nó điều hòa các gien mà có ảnh hưởng tới ít nhất là 36 protein não quan trọng có liên quan đến hoạt động chức năng và quá trình phát triển trong đồi hải mã và vỏ não (bao gồm quá trình hình thành synap, giám sát và truyền dẫn thần kinh) [9]. Chứng thiếu hụt vitamin D tiến triển cũng cho thấy những bất thường có liên quan đến các bệnh khác nhau về não [9]. Hơn nữa, tình trạng vitamin D của người mẹ thấp có liên quan đáng kể đến bệnh tự kỷ, bệnh đa xơ cứng, bệnh tâm thần phân liệt và làm giảm khả năng nhận thức thần kinh [10-13]. Vitamin D cũng đóng một vai trò quan trọng trong việc hoạt hóa hệ miễn dịch bẩm sinh, qua đó tình trạng vitamin D của người mẹ cao hơn được cho là có liên quan đến việc giảm nguy cơ nhiễm trùng đường hô hấp ở trẻ sơ sinh [14].

Vitamin D xem ra là rất quan trọng trong việc duy trì tốt sức khỏe của người mẹ. Các thụ cảm thể vitamin D được tìm thấy trong các tế bào β của tuyến tụy, hỗ trợ quá trình tiết insulin [15]. Các đặc tính điều biến miễn dịch của nó kiểm soát các thành phần của mạch máu và điều hòa quá trình phiên mã gien VEGF [16].  Các cơ chế này chỉ ra vai trò quan trọng của vitamin D trong việc giảm hai trong số các bệnh phổ biến nhất của người mẹ, bệnh đái tháo đường thai kỳ và tiền sản giật. Một phân tích tổng quan gần đây được tiến hành để quan sát ảnh hưởng của tình trạng vitamin D đối với các chỉ số thai kỳ và các biến sinh nở [17]. Đưa vào phân tích có mười nghiên cứu báo cáo về các trường hợp đái tháo đường thai kỳ (N=4112), chín nghiên cứu về tiền sản giật (N=3191), mười nghiên cứu về các biến sinh nở (N=8788) và ba nghiên cứu về nhiễm trùng âm đạo (N=4462). Phân tích cho thấy việc thiếu hụt vitamin D (<75nmol/L) có liên quan tới việc tăng 49% nguy cơ bị đái tháo đường thai kỳ; tăng 79% nguy cơ bị tiền sản giật; tăng 85% nguy cơ trẻ sơ sinh bị nhỏ hơn so với tuổi thai và gia tăng đáng kể nguy cơ bị nhiễm trùng âm đạo. Các phát hiện này nhấn mạnh tầm quan trọng của vitamin D trong toàn bộ quá trình phát triển của bào thai và sức khỏe của người mẹ.

Thiếu vitamin D là mối lo ngại lớn trên toàn thế giới, đặc biệt là trong giai đoạn mang thai. Chỉ tính riêng ở Úc, một đất nước được mặt trời ưu đãi, có khoảng 43% phụ nữ bị thiếu hụt vitamin D [18]. Hậu quả là tỉ lệ và chi phí xét nghiệm lượng vitamin D đã tăng lên gần 10 lần trong vòng 10 năm vừa qua [19]. Đây là một dưỡng chất cần phải được coi trọng hơn nữa.

Axit folic có thể bảo vệ chống lại các rối loạn phát triển thần kinh khác

Bổ sung axit folic trước khi thụ thai và trước khi sinh đã được công nhận là làm giảm các khuyết tật ống thần kinh vì nó giữ vai trò quan trọng trong sự phân chia tế bào nhanh trong quá trình phát triển thần kinh cũng như hỗ trợ việc tổng hợp, metyl hóa và chỉnh sửa DNA. Nghiên cứu gần đây cho rằng bổ sung axit folic có thể cũng làm giảm nguy cơ mắc hội chứng tự kỷ mà có khả năng bắt đầu từ giai đoạn sớm của thai kỳ. Một nghiên cứu dựa trên quần thể xuôi thời gian trên 85.176 trẻ nhấn mạnh rằng trẻ có mẹ đã uống axit folic giảm 39% nguy cơ mắc bệnh tự kỷ so với những trẻ có mẹ không dùng sản phẩm bổ sung axit folic [20]. Tuy nhiên, không thấy có mối liên hệ với hội chứng Asperger (hội chứng rối loạn tự kỷ) và rối loạn phát triển thần kinh lan tỏa – không đặc hiệu khác (PDD-NOS), nhưng số liệu thống kê về các rối loạn này vẫn còn hạn chế. Nghiên cứu này cũng cung cấp những phát hiện tương tự về việc bổ sung axit folic làm giảm chứng chậm nói nặng [21]. Hơn thế nữa, bổ sung axit folic có liên quan tới việc giảm nguy cơ bị hở hàm ếch và hạn chế sự tăng trưởng của bào thai [22]. Nghiên cứu này cũng nhấn mạnh rằng liều dùng cao axit folic (4mg/ngày) cũng không có thêm tác dụng đối với sự tăng trưởng của bào thai và tỉ lệ mắc dị tật hở hàm ếch so với liều dùng thông thường của axit folic (400μg/ngày).

Trừ khi có tiền sử bị dị tật hoặc có các vấn đề, thì lượng bổ sung axit folic khoảng 400μg/ngày là đủ. Thật lý tưởng khi kết hợp sản phẩm bổ sung với axit folic qua bữa ăn từ các loại rau lá xanh và ngũ cốc tăng cường. Tuy nhiên, vấn đề không phải là sự nhận thức hay tuân thủ vì tầm quan trọng của axit folic trong khi mang thai đã ăn sâu vào trí óc người phụ nữ. Vấn đề là có khoảng 50% phụ nữ mang thai không có kế hoạch trước, vì vậy những người này thường bỏ qua cơ hội bổ xung axit folic trước khi thụ thai / trong thời gian đầu thai kỳ. Đối tượng dùng các sản phẩm bổ sung axit folic nên được nhắm tới là phụ nữ ở độ tuổi sinh đẻ.

Tổng quát

Việc phấn đấu để đạt tình trạng dinh dưỡng đầy đủ trước khi sinh là một cách phòng ngừa bệnh tương đối đơn giản so với những chi phí liên quan và gánh nặng đè lên sức khỏe, sự phát triển và các nguồn phân bổ để điều trị các bệnh kéo theo sắp xảy ra.

 
Tài liệu tham khảo:

  1. Charlton, K.E., et al., Improvement in iodine status of pregnant Australian women 3years after introduction of a mandatory iodine fortification programme. Prev Med, 2013. 57(1): p. 26-30.
  2. Clifton, V.L., et al., The impact of iodine supplementation and bread fortification on urinary iodine concentrations in a mildly iodine deficient population of pregnant women in South Australia. Nutr J, 2013. 12: p. 32.
  3. Hynes, K.L., et al., Mild iodine deficiency during pregnancy is associated with reduced educational outcomes in the offspring: 9-year follow-up of the gestational iodine cohort. J Clin Endocrinol Metab, 2013. 98(5): p. 1954-62.
  4. van Mil, N.H., et al., Low urinary iodine excretion during early pregnancy is associated with alterations in executive functioning in children. J Nutr, 2012. 142(12): p. 2167-74.
  5. Koletzko, B., et al., The roles of long-chain polyunsaturated fatty acids in pregnancy, lactation and infancy: review of current knowledge and consensus recommendations. J Perinat Med, 2008. 36(1): p. 5-14.
  6. Kulkarni, A., et al., Association of omega-3 fatty acids and homocysteine concentrations in pre-eclampsia. Clin Nutr, 2011. 30(1): p. 60-4.
  7. Saldeen, P. and T. Saldeen, Omega-3 Fatty acids: structure, function, and relation to the metabolic syndrome, infertility, and pregnancy. Metab Syndr Relat Disord, 2006. 4(2): p. 138-48.
  8. Emmett, R., et al., Expanding awareness of docosahexaenoic acid during pregnancy. Nutrients, 2013. 5(4): p. 1098-109.
  9. Almeras, L., et al., Developmental vitamin D deficiency alters brain protein expression in the adult rat: implications for neuropsychiatric disorders. Proteomics, 2007. 7(5): p. 769-80.
  10. Kocovska, E., et al., Vitamin D and autism: Clinical review. Res Dev Disabil, 2012. 33(5): p. 1541-50.
  11. McGrath, J.J., et al., Developmental vitamin D deficiency and risk of schizophrenia: a 10-year update. Schizophr Bull, 2010. 36(6): p. 1073-8.
  12. Mirzaei, F., et al., Gestational vitamin D and the risk of multiple sclerosis in offspring. Ann Neurol, 2011. 70(1): p. 30-40.
  13. Whitehouse, A.J., et al., Maternal serum vitamin D levels during pregnancy and offspring neurocognitive development. Pediatrics, 2012. 129(3): p. 485-93.
  14. Morales, E., et al., Maternal vitamin D status in pregnancy and risk of lower respiratory tract infections, wheezing, and asthma in offspring. Epidemiology, 2012. 23(1): p. 64-71.
  15. Maghbooli, Z., et al., Correlation between vitamin D3 deficiency and insulin resistance in pregnancy. Diabetes Metab Res Rev, 2008. 24(1): p. 27-32.
  16. Bodnar, L.M., et al., Maternal vitamin D deficiency increases the risk of preeclampsia. J Clin Endocrinol Metab, 2007. 92(9): p. 3517-22.
  17. Aghajafari, F., et al., Association between maternal serum 25-hydroxyvitamin D level and pregnancy and neonatal outcomes: systematic review and meta-analysis of observational studies. BMJ, 2013. 346: p. f1169.
  18. Boyages, S. and K. Bilinski, Seasonal reduction in vitamin D level persists into spring in NSW Australia: implications for monitoring and replacement therapy. Clin Endocrinol (Oxf), 2012. 77(4): p. 515-23.
  19. Bilinski, K. and S. Boyages, Evidence of overtesting for vitamin D in Australia: an analysis of 4.5 years of Medicare Benefits Schedule (MBS) data. BMJ Open, 2013. 3(6).
  20. Suren, P., et al., Association between maternal use of folic acid supplements and risk of autism spectrum disorders in children. JAMA, 2013. 309(6): p. 570-7.
  21. Roth, C., et al., Folic acid supplements in pregnancy and severe language delay in children. JAMA, 2011. 306(14): p. 1566-73.
  22. Wehby, G.L., et al., High dosage folic acid supplementation, oral cleft recurrence and fetal growth. Int J Environ Res Public Health, 2013. 10(2): p. 590-605.

 

Chia sẻ bài viết:Share on Facebook0Tweet about this on TwitterShare on Google+0Email this to someoneBuffer this pageShare on LinkedIn0Digg thisShare on Reddit0