Mang thai và cho con bú gây ảnh hưởng tới sức khoẻ của xương

Mặc dù việc hiểu biết một cách chính xác chất dinh dưỡng nào là tốt nhất cho bạn và con bạn trong thời kỳ mang thai và cho con bú rất khó, nhưng có rất nhiều người coi thường sự cần thiết của canxi và các chất dinh dưỡng khác đối với sức khoẻ và sự phát triển của xương. Nhu cầu tăng lên đối với canxi từ khi bào thai đang phát triển là một vấn đề rất quan trọng cần phải nghĩ tới vì việc bổ sung khoáng chất thiết yếu này giúp phụ nữ mang thai tránh được tình trạng thiếu hụt và các rối loạn về xương như loãng xương.

Bồi dưỡng là hai âm mà ta phải nghe đi nghe lại rất nhiều lần. Tuy nhiên, nó không đơn giản như vậy. Phụ nữ mang thai cần phải bồi dưỡng nhiều thức ăn và các chất dinh dưỡng cần thiết cho cả sức khoẻ của mẹ và sự phát triển của bào thai. Để có được lời khuyên đúng đắn về chế độ dinh dưỡng tối ưu trong thời kỳ mang thai là rất quan trọng, vì có nhu cầu cụ thể cho mẹ và em bé trong giai đoạn then chốt này.

Trong thời kỳ mang thai và cho con bú, nhu cầu dinh dưỡng của người mẹ tăng lên đột ngột [1]. Nếu các bà mẹ không có đủ chất dinh dưỡng trong các thời kỳ này, họ sẽ có nguy cơ bị thiếu dinh dưỡng, mà có thể ảnh hưởng xấu tới sức khoẻ của cả mẹ và em bé. Trọng lượng khi sinh của trẻ có thể tương quan với sức khoẻ chung của trẻ trong thời thơ ấu và giai đoạn sau của cuộc đời. Việc tăng chất dinh dưỡng và cung cấp các vitamin và khoáng chất cần thiết giúp tạo cơ hội cho con bạn có cân nặng khi sinh đạt mức tối ưu.

Nhu cầu tăng lên trong thời kỳ mang thai dành cho bạn và con bạn

Sinh em bé là một việc làm khó đối với rất nhiều bà mẹ, kể cả về mặt thể chất và tâm lý. Về mặt thể chất, việc tạo ra một con người đòi hỏi một lượng năng lượng khổng lồ. May mắn thay đối với các bà mẹ thích ăn, phụ nữ mang thai cần phải ăn nhiều hơn bình thường. Điều này không có nghĩa là ăn bất cứ thứ gì và ăn tất cả, mà phải ăn những loại thức ăn nhất định có chứa các chất dinh dưỡng cần thiết cho giai đoạn then chốt này của cuộc đời người phụ nữ. Các nhu cầu này thay đổi qua các thai kỳ, vì các chất dinh dưỡng nhất định đặc biệt quan trọng đối với từng kỳ ba tháng.

Kỳ ba tháng đầu

  • Quyết định nhất đối với sự phát triển của bào thai vì các bộ phận quan trọng được hình thành trong thời kỳ này.
  • Cần lượng lớn protein.
  • Duy trì năng lượng bằng carbonhydrate phức hợp (ngũ cốc, mì ống, bánh mì…).
  • Axít folic cần thiết để ngăn ngừa khuyết tật ống thần kinh.*
  • Vì lượng máu tăng lên để nuôi bào thai đang phát triển nên việc cung cấp sắt để cải thiện khả năng mang ôxy tới cho bào thai và em bé là rất quan trọng.

Kỳ ba tháng thứ hai

  • Bộ xương của bào thai bắt đầu khoáng hoá.
  • Cần lượng lớn canxi, Phốt pho và magiê.
    • Canxi: cho xương và răng khoẻ mạnh, cho sự phát triển cơ và hoạt động chức năng của dây thần kinh và cơ.
    • Phốt pho: cho xương và răng mạnh khoẻ, cho quá trình sản sinh năng lượng và sản xuất sữa.
    • Magiê: cho hoạt động chức năng của gan và tim, cho sự chuyển hoá protein và carbohydrate, cho các cơ và dây thần kinh đang phát triển.
  • Mangan cũng cần thiết để kích thích enzyme sản sinh ra sụn và xương có liên quan tới sự phát triển của cả bộ xương.

Kỳ ba tháng cuối

  • Não phát triển vượt trội trong thời kỳ này và cần bổ sung các axít béo thiết yếu như omega-3 DHA và EPA.
  • Cung cấp các chất dinh dưỡng cần thiết cho thai nhi đang phát triển để chuẩn bị sinh là rất quan trọng.
    • Việc cung cấp này bao gồm cả DHA và EPA cho sự phát triển của thị lực và thần kinh.
  • Sắt giữ vai trò quan trọng đối với máu trong giai đoạn này.
  • Trong giai đoạn này, nhu cầu về vitamin C tăng lên giúp tăng cường quá trình hấp thu sắt.
  • Nhu cầu về kẽm tăng gấp hai lần so với nhu cầu khuyến cáo của phụ nữ không mang thai.
    • Kẽm cần thiết cho hệ miễn dịch và não đang phát triển, và cũng giúp giảm thiểu việc sinh non [2]
  • Magiê đặc biệt quan trọng trong việc kiểm soát huyết áp của thai phụ, vì nó giúp làm giảm nguy cơ bị tiền sản giật [3]

* Axít folic cần thiết cho chế độ ăn uống của phụ nữ đang có kế hoạch mang thai và sau đó là trong thời gian mang thai. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng việc bổ sung axít folic cho người mẹ giúp giảm đáng kể nguy cơ bị khuyết tật ống thần kinh ở trẻ sơ sinh. Hơn thế nữa, axít folic cần thiết cho quá trình phát triển hệ thần kinh và tổng hợp hồng cầu.

Tiêu điểm: Sức khoẻ xương

Sức khoẻ và sự phát triển của xương thường không được chú ý tới trong giai đoạn phát triển của bào thai. Việc hình thành xương trong giai đoạn phát triển và trưởng thành đòi hỏi phải cần đến canxi và protein. Nghiên cứu gần đây cho rằng việc bổ sung canxi và protein cho thai nhi đang phát triển có thể ảnh hưởng tới sức khoẻ của trẻ sơ sinh trong suốt quãng đời sau này của trẻ. Người ta cho rằng lượng canxi và protein thấp để lại hậu quả đáng kể cho sức khoẻ của xương trong giai đoạn sau của cuộc đời, như mật độ xương thấp và tăng nguy cơ bị loãng xương [4].

Tuổi trung bình của người phụ nữ khi mang thai tăng lên trong 50 năm gần đây, điều này có ý nghĩa đặc biệt đối với sức khoẻ của xương. Hiện nay, ngày càng có nhiều phụ nữ sinh con ở độ tuổi 30 và thậm chí đầu những năm 40 tuổi. Khối lượng xương đỉnh xuất hiện ở đầu những năm 20 tuổi, tuy nhiên thông thường khối xương của chúng ta đạt đến tối đa ở tuổi 30. Sau thời gian này, sự mất xương (huỷ xương) vượt quá tốc độ hình thành xương. Điều này có nghĩa là lại có thêm một áp lực nữa được đặt lên thai phụ và hệ thống xương của họ vì thai nhi đang phát triển cần một lượng lớn canxi để phát triển xương. Các biến chứng đáng kể có thể xảy ra trong khi mang thai như chứng loãng xương nhất thời.

Chứng loãng xương nhất thời phát triển khi thai phụ có lượng canxi thấp trong thời kỳ trước và trong khi mang thai. Đa số các trường hợp gãy xương hông xảy ra trong kỳ ba tháng cuối thai kỳ có liên quan tới mật độ xương thấp được chẩn đoán là do loãng xương [5, 6], là chứng bệnh có ảnh hưởng đáng kể tới bà mẹ và em bé. Nghiêm trọng hơn, việc gãy thân đốt sống của xương sống đặc biệt đáng sợ và gây đau lưng khủng khiếp [7]. Vitamin D cho thấy giúp cải thiện sức khoẻ của những phụ nữ đang bị bệnh này trong thời kỳ mang thai [6]. Khi mắc bệnh này, vitamin D được cần đến cho quá trình khoáng hoá và phát triển của xương và cơ. Người ta cho rằng trong khi mang thai, sự phát triển của bộ xương có ảnh hưởng dài hạn tới cuộc sống sau này, liên quan tới sự gãy xương, mất xương và loãng xương [8].

Canxi đóng vai trò cốt yếu trong quá trình phát triển xương của bào thai, vì thai phụ cần đến khoảng 30g canxi trong suốt thời kỳ mang thai và cho con bú. Phụ nữ mang thai và cho con bú được khuyến cáo nên dùng 1000 – 1200mg canxi một ngày để đáp ứng nhu cầu của đứa trẻ.

Sau khi sinh và cho con bú

Tương tự như thời kỳ trước và trong khi mang thai, chế độ ăn khoẻ mạnh và giàu chất dinh dưỡng sau khi sinh cũng rất quan trọng, đặc biệt là đối với chất lượng của sữa mẹ. Đối với các bà mẹ đang cho con bú, năng lượng và chất dinh dưỡng cần thiết để hỗ trợ việc sản xuất sữa. Sắt là một khoáng chất quan trọng cho máu và giúp giảm mệt mỏi. Phải uống nhiều nước, vì bạn có thể bị mất hơn nửa lít dịch một ngày, đặc biệt là do nhu cầu về dịch tăng lên trong thời kỳ cho con bú. Như nguồn cung cấp chính các chất dinh dưỡng cho con bạn, bạn cũng nên duy trì việc bổ sung các vitamin và khoáng chất cần thiết. Canxi và vitamin D đặc biệt quan trọng đối với việc sản xuất sữa mẹ, giúp cải thiện chất lượng sữa mẹ cho em bé. Trong thời kỳ tiết sữa, một ngày có 20mg vitamin C được chuyển qua sữa mẹ, vì vậy các bà mẹ đang cho con bú được khuyến cáo nên tăng lượng hấp thụ vitamin C lên tới 70mg/ngày để đáp ứng nhu cầu của cả mẹ và em bé. Trong thời kỳ tiết sữa, việc bổ sung thêm mangan và magiê (50 – 55mg/ngày) cần thiết cho sự phát triển của xương. Như khi mang thai, bạn nên tránh dùng rượu, thuốc lá, cà phê và các thuốc gây nghiện trong khi đang cho con bú, vì các chất này sẽ đi vào sữa của bạn.

ABExtra Bonecare+ là một nguồn giàu canxi, magiê, kẽm, mangan, vitamin C, vitamin D và axít folic, cần thiết cho sức khoẻ và sự phát triển của xương. Nhấn vào đây để biết thêm thông tin.

  1. Cooper C, Harvey N, Javaid K, Hanson M, Dennison E: Growth and bone development. Nestle Nutr Workshop Ser Pediatr Program 2008, 61:53-68.
  2. Mahomed K, Bhutta Z, Middleton P: Zinc supplementation for improving pregnancy and infant outcome. Cochrane Database Syst Rev 2007(2):CD000230.
  3. Woolhouse M: Complementary medicine for pregnancy complications. Aust Fam Physician 2006, 35(9):695.
  4. Lanham SA, Roberts C, Cooper C, Oreffo RO: Intrauterine programming of bone. Part 1: alteration of the osteogenic environment. Osteoporos Int 2008, 19(2):147-156.
  5. Xyda A, Mountanos I, Natsika M, Karantanas AH: Postpartum bilateral transient osteoporosis of the hip: MR imaging findings in three cases. Radiol Med 2008, 113(5):689-694.
  6. Aynaci O, Kerimoglu S, Ozturk C, Saracoglu M: Bilateral non-traumatic acetabular and femoral neck fractures due to pregnancy-associated osteoporosis. Arch Orthop Trauma Surg 2008, 128(3):313-316.
  7. Ofluoglu O, Ofluoglu D: A case report: pregnancy-induced severe osteoporosis with eight vertebral fractures. Rheumatol Int 2008, 29(2):197-201.
  8. Pasco JA, Wark JD, Carlin JB, Ponsonby AL, Vuillermin PJ, Morley R: Maternal vitamin D in pregnancy may influence not only offspring bone mass but other aspects of musculoskeletal health and adiposity. Med Hypotheses 2008, 71(2):266-269.

 

Chia sẻ bài viết:Share on Facebook0Tweet about this on TwitterShare on Google+0Email this to someoneBuffer this pageShare on LinkedIn0Digg thisShare on Reddit0