Cập nhật: Mối liên hệ giữa ung thư vú và Isoflavones

Giữa văn hóa phương Đông và phương Tây có sự khác nhau đáng kể về mối liên hệ giữa việc sử dụng isoflavone và nguy cơ bị ung thư vú, tuy nhiên một tổng kết gần đây đã cố gắng làm rõ các yếu tố được cho là nguyên nhân tạo ra những sự khác biệt này. Cho tới nay, có một vài yếu tố nguy cơ có thể thay đổi được một cách tương đối đối với việc mắc bệnh ung thư vú. Các yếu tố nguy cơ được biết đến hiện nay có liên quan tới việc tuổi tác tăng lên, tính cách sắc tộc, các yếu tố về khả năng sinh sản và béo phì. Các yếu tố về chế độ ăn uống được xem như là một biện pháp phòng ngừa ung thư vú, và được nói đến nhiều nhất là isoflavone đậu nành, tuy nhiên có một số yếu tố làm cho mối liên hệ này trở nên khó hiểu. Việc ước tính tổng lượng bổ sung đậu nành và isoflavone dựa trên nguồn cung cấp chắc chắn dễ bị sai sót, và sự tồn tại của những nguồn đậu nành “tiềm ẩn” ở những người không ăn đậu nành trực tiếp cũng có thể làm cho vấn đề này tồi tệ hơn [1]. Hơn nữa, ung thư vú cũng liên quan tới những sự biểu hiện khác nhau của các thụ cảm thể oestrogen mà có thể hoặc không thể đáp ứng được với các chất có hoạt tính hocmon như isoflavones. Trong các thử nghiệm liên quan tới ung thư có thụ cảm thể oestrogen dương tính, isoflavones vẫn cho thấy có tác dụng tốt [2-4].

Sau nhiều tranh luận và nghiên cứu về mối liên hệ này, có thêm nhiều thông tin được rút ra từ các nghiên cứu qui mô lớn hơn cho thấy tác dụng của isoflavones. Một nghiên cứu gần đây được tiến hành ở Trung Quốc, nghiên cứu về những người bị ung thư vú còn sống ở Thượng Hải, đã nghiên cứu 5.042 phụ nữ bị ung thư vú còn sống để đánh giá mối liên quan giữa việc bổ sung thực phẩm đậu nành sau khi được chẩn đoán bị ung thư vú với tổng số người tử vong và tái phát lại ung thư. Trong khoảng thời gian theo dõi trung bình là 3,9 năm (trong khoảng từ 0,5 tới 6,2 năm), có 444 người tử vong và 534 người tái phát lại hoặc tử vong có liên quan tới ung thư vú được thống kê trong số 5.033 bệnh nhân bị ung thư vú được điều trị bằng phẫu thuật. Bổ sung thực phẩm đậu nành, được tính bằng việc bổ sung hoặc protein đậu nành hoặc isoflavone đậu nành, tỉ lệ nghịch với tỉ lệ tử vong và tái phát. Tỉ số nguy cơ so sánh giữa phân vị cao nhất và phân vị thấp nhất của việc bổ sung protein đậu nành là 0,71 (khoảng tin cậy 95%, 0,54-0,92) đối với tử vong và 0,68 (khoảng tin cậy 95%, 0,54-0,87) đối với sự tái phát [5]. Nghiên cứu đặc biệt quan trọng này cho thấy tác dụng phòng ngừa của isoflavones trong việc kiểm soát tình trạng bệnh ung thư vú và tỉ lệ tử vong trong một vài năm theo dõi. Tác dụng này của isoflavones đối với ung thu vú trở nên phổ biến trong các nghiên cứu được tiến hành trên những người dân châu Á. [6].

Tài liệu tham khảo:

1. Nagata, C., Factors to Consider in the Association Between Soy Isoflavone Intake and Breast Cancer Risk. J Epidemiol, 2010.
2. Linseisen, J., et al., Dietary phytoestrogen intake and premenopausal breast cancer risk in a German case-control study. Int J Cancer, 2004. 110(2): p. 284-90.
3. Touillaud, M.S., et al., Effect of dietary intake of phytoestrogens on estrogen receptor status in premenopausal women with breast cancer. Nutr Cancer, 2005. 51(2): p. 162-9.
4. Wu, A.H., et al., Soy intake and breast cancer risk in Singapore Chinese Health Study. Br J Cancer, 2008. 99(1): p. 196-200.
5. Shu, X.O., et al., Soy food intake and breast cancer survival. JAMA, 2009. 302(22): p. 2437-43.
6. Wu, A.H., et al., Epidemiology of soy exposures and breast cancer risk. Br J Cancer, 2008. 98(1): p. 9-14.

Chia sẻ bài viết:Share on Facebook0Tweet about this on TwitterShare on Google+0Email this to someoneBuffer this pageShare on LinkedIn0Digg thisShare on Reddit0