Một cách đơn giản để đạt nhu cầu canxi trong thời kỳ mang thai

Dù trong thời gian đang cố gắng thụ thai, hiện đang mang thai hay thậm chí đang cho con bú, thì bạn vẫn sẽ được nghe về nó, rằng chế độ ăn uống của bạn rất quan trọng đối với sức khỏe và thể trạng của em bé! Trong toàn bộ giai đoạn này, phụ nữ cần phải tăng đáng kể lượng bổ sung dinh dưỡng, việc này tạo áp lực căng thẳng cho chế độ ăn uống của bạn. Mặc dù tất cả chúng ta đều quyết tâm đáp ứng được nhu cầu dinh dưỡng tăng cao trong giai đoạn này, nhưng quả thực không dễ để làm được việc này trong một thời gian dài như vậy. Nhiều chuyên gia y tế khuyến cáo phụ nữ trong những thời kỳ này nên ăn ít nhất 3 bữa các sản phẩm từ sữa một ngày để có canxi. Khi bạn nghĩ lại về tuần vừa qua, có bao nhiêu ngày bạn đã thực sự đạt tới yêu cầu này? Liệu có ngày nào mà bạn chỉ ăn một bữa hoặc thậm chí không ăn bữa nào các sản phẩm từ sữa không? Có lẽ bạn đã biết rằng bạn không có đủ lượng các sản phẩm từ sữa trong chế độ ăn uống, vậy thì không còn nghi ngờ gì nữa bạn đang đi tìm một cách đơn giản hơn nhằm có đủ canxi để giúp hỗ trợ sự phát triển của em bé.

Trước khi đưa câu trả lời cho bạn, trước hết chúng ta cần phải xem xét lý do tại sao việc có đủ lượng canxi lại quan trọng đến vậy trong những khoảng thời gian này. Canxi là một khoáng chất thiết yếu, kết tinh để hình thành xương. Trong quá trình phát triển của em bé, bé cần rất nhiều canxi để hình thành và phát triển xương của chúng, từ những xương ngón chân và ngón tay bé xíu cho đến xương cột sống, xương sườn và xương sọ bảo vệ các cơ quan quan trọng. Khi không có đủ canxi, xương của bé sẽ không thể phát triển đúng, dẫn tới các vấn đề về tăng trưởng và các biến dạng hình thể. Để hỗ trợ, một lượng nhỏ canxi sẽ được lấy từ xương của người mẹ để giúp phát triển xương của thai nhi, nhưng khi người mẹ không có đủ canxi trong chế độ ăn, thì sẽ có rất nhiều canxi được lấy từ xương của người mẹ và khi đó các vấn đề về sức khỏe nghiêm trọng hơn có thể sẽ xảy ra. Lượng canxi thấp trong khi mang thai có liên quan tới việc tăng nguy cơ tiền sản giật. Căn bệnh đáng sợ này sẽ làm giảm quá trình phát triển của em bé và thường dẫn tới sinh non và các biến chứng khác. Bên cạnh sự phát triển của xương, canxi cũng giữ vai trò quan trọng đối với răng, cơ, hệ thần kinh, tim, da và móng của em bé. Để đáp ứng tất cả các yêu cầu này, hầu hết phụ nữ đều cần phải bổ sung canxi vào chế độ ăn uống của họ.

Nhưng khoan đã! Trước khi bạn bắt đầu bổ sung canxi, liệu bạn có biết rằng canxi có rất nhiều dạng khác nhau, khác nhau về tính hiệu quả và khả năng được cơ thể hấp thu? Thêm vào đó, quá trình hình thành xương không chỉ phụ thuộc hoàn toàn vào lượng canxi mà bạn tiêu thụ. Có nhiều loại vitamin và khoáng chất khác mà canxi phải dựa vào chúng để đến và lắng đọng trong xương. Vitamin D cần thiết để ruột hấp thu canxi, trong khi vitamin K cần thiết để giúp gắn kết canxi vào mô xương. Canxi cũng cần kết hợp với phốt pho theo tỷ lệ 2:1 để hoàn tất quá trình khoáng hoá xương thích hợp. Phức tạp hơn nữa, quá trình hình thành xương cần đến các protein đặc hiệu cần thiết đối với toàn bộ cấu trúc và sự hình thành xương. Tầm quan trọng của những chất dinh dưỡng và protein hỗ trợ này được nhấn mạnh bởi nghiên cứu cho thấy nếu chỉ bổ sung một mình canxi thì tác dụng cải thiện mật độ xương nếu có cũng sẽ là rất nhỏ, ngay cả ở liều lượng lớn [1]. Trên thực tế, khi chỉ bổ sung riêng canxi, canxi có thể làm tăng nguy cơ mắc các vấn đề về tim mạch [2], điều này chứng minh thêm tầm quan trọng của việc hỗ trợ các chất dinh dưỡng như vitamin D và K, giúp vận chuyển canxi đến xương một cách chính xác. Các nghiên cứu lâm sàng đã cho thấy tình trạng vitamin D của người mẹ cao hơn có ảnh hưởng tích cực đối với sự phát triển xương của thai nhi và giảm nguy cơ bị đái tháo đường thai kỳ và tiền sản giật [3-5]. Các nghiên cứu cũng chỉ ra rằng vitamin K giữ vai trò quan trọng đối với sự tăng trưởng thích hợp của răng và sụn sẽ trở thành xương. Các nghiên cứu trên động vật cho thấy nếu không có đủ vitamin K, quá trình canxi hóa sẽ không được kiểm soát và dẫn đến các biến dạng hình thái khuôn mặt [6]. Bổ sung vitamin K cũng có thể cải thiện tình trạng vitamin K ở những trẻ sơ sinh đang bú mẹ [7].

Tuy nhiên với các hạn chế của việc chỉ bổ sung một mình canxi thì microcrystalline hydroxyapatite (MCHA) nổi lên như một lựa chọn điều trị hiệu quả đã được khoa học chứng minh giúp hỗ trợ quá trình hình thành xương. MCHA là cấu trúc cơ bản trong xương giúp xương chắc khoẻ. Vì MCHA là một hợp chất hữu cơ tự nhiên nên nó có chứa tất cả các chất mà mô xương cần và theo đúng tỉ lệ. MCHA có chứa canxi (24%) và phốt pho (12%) theo tỷ lệ 2:1 tự nhiên, kết hợp với các protein nền, collagen loại 1, glycosaminoglycan, các khoáng chất vi lượng và các yếu tố tăng trưởng có hoạt tính sinh học quan trọng. Tất cả các thành phần phối hợp này đều là các yếu tố cần thiết cho quá trình hình thành xương chắc khoẻ, sự tăng trưởng và quá trình chuyển hóa của xương [8]. Hơn nữa, cấu trúc vi tinh thể tự nhiên, đặc biệt và các thành phần bên trong làm cho MCHA trở thành nguồn canxi có khả năng hấp thu và sinh khả dụng rất tốt, tạo nên một lợi thế khác biệt nữa cho MCHA. Một số nghiên cứu lâm sàng cho thấy việc bổ sung MCHA có thể cải thiện hiệu quả mật độ và độ dày của xương [9-12] và MCHA cho thấy có hiệu quả hơn các sản phẩm bổ sung canxi thông thường khác như canxi carbonate và canxi gluconate [8, 10, 11, 13].

Cùng với các lợi ích về quá trình hình thành xương của thai nhi, việc bổ sung canxi trong thai kỳ còn được khoa học chứng minh giúp làm giảm nguy cơ tiền sản giật tới 82% [14] và các vấn đề về răng ở trẻ em tới 27% [15].

Là một người mẹ, bạn thật sự muốn làm những điều tốt nhất có thể cho con của bạn, nhưng việc đảm bảo để bạn có đủ lượng canxi hàng ngày có thể là một nhiệm vụ khó khăn. Giải pháp, NextG Cal, một loại thuốc bổ sung mới được MaxBiocare thiết kế nhằm hỗ trợ quá trình hình thành xương. NextG Cal chứa MCHA có chất lượng tốt nhất trên thị trường, có nguồn gốc từ Australia, một trong những số ít quốc gia có thể đáp ứng tiêu chuẩn này. Với hướng dẫn sản xuất nghiêm ngặt và chương trình giám sát toàn diện của Australia, bạn có thể yên tâm rằng khi bạn uống NextG Cal, bạn đang nhận được MCHA có độ an toàn, tính hiệu quả và chất lượng tốt nhất trên thế giới. Ngoài canxi, phốt pho, các khoáng chất, các yếu tố tăng trưởng và protein chứa trong MCHA, NextG Cal còn có vitamin D và K giúp hỗ trợ thêm sự hằng định nội môi của canxi và sự phát triển của xương. Các loại sữa bột công thức có chứa canxi đòi hỏi phải đong đếm và pha trộn nhiều mà những việc làm thêm này chán ngắt và gây phiền nhiễu, dẫn đến việc nhiều người sử dụng từ bỏ hoặc phải cố gắng để thực hiện nó mỗi ngày. Trong thời gian mang thai, cũng khó để giữ mọi thứ và vị kem cũng có thể gây buồn nôn cho một số người. NextG Cal chứa một hàm lượng canxi xác định và ở dạng viên nang nhỏ dễ nuốt làm cho việc sử dụng chúng hàng ngày trở nên đơn giản hơn. Việc hỗ trợ quá trình phát triển xương của em bé là một đầu tư dài hạn, đó là lý do tại sao những yếu tố này rất có giá trị để NextG Cal đồng hành cùng bạn trước, trong và sau khi mang thai.

Tài liệu tham khảo
1.    Bischoff-Ferrari, H.A., B. Dawson-Hughes, J.A. Baron, P. Burckhardt, R. Li, D. Spiegelman, B. Specker, J.E. Orav, J.B. Wong, H.B. Staehelin, E. O’Reilly, D.P. Kiel, and W.C. Willett, (2007) ‘Calcium intake and hip fracture risk in men and women: a meta-analysis of prospective cohort studies and randomized controlled trials.’ Am J Clin Nutr. 86(6): p. 1780-90.
2.    Bolland, M.J., A. Avenell, J.A. Baron, A. Grey, G.S. MacLennan, G.D. Gamble, and I.R. Reid, (2010) ‘Effect of calcium supplements on risk of myocardial infarction and cardiovascular events: meta-analysis.’ BMJ. 341: p. c3691.
3.    Haugen, M., A.L. Brantsaeter, L. Trogstad, J. Alexander, C. Roth, P. Magnus, and H.M. Meltzer, (2009) ‘Vitamin D supplementation and reduced risk of preeclampsia in nulliparous women.’ Epidemiology. 20(5): p. 720-6.
4.    Maki, K.C., V.L. Fulgoni, 3rd, D.R. Keast, T.M. Rains, K.M. Park, and M.R. Rubin, (2012) ‘Vitamin D intake and status are associated with lower prevalence of metabolic syndrome in U.S. adults: National Health and Nutrition Examination Surveys 2003-2006.’ Metab Syndr Relat Disord. 10(5): p. 363-72.
5.    Young, B.E., T.J. McNanley, E.M. Cooper, A.W. McIntyre, F. Witter, Z.L. Harris, and K.O. O’Brien, (2012) ‘Maternal vitamin D status and calcium intake interact to affect fetal skeletal growth in utero in pregnant adolescents.’ Am J Clin Nutr. 95(5): p. 1103-12.
6.    Howe, A.M. and W.S. Webster, (1994) ‘Vitamin K–its essential role in craniofacial development. A review of the literature regarding vitamin K and craniofacial development.’ Aust Dent J. 39(2): p. 88-92.
7.    Greer, F.R., S.P. Marshall, A.L. Foley, and J.W. Suttie, (1997) ‘Improving the vitamin K status of breastfeeding infants with maternal vitamin K supplements.’ Pediatrics. 99(1): p. 88-92.
8.    Castelo-Branco, C., M. Ciria-Recasens, M.J. Cancelo-Hidalgo, S. Palacios, J. Haya-Palazuelos, J. Carbonell-Abello, J. Blanch-Rubio, M.J. Martinez-Zapata, J. Manasanch, and L. Perez-Edo, (2009) ‘Efficacy of ossein-hydroxyapatite complex compared with calcium carbonate to prevent bone loss: a meta-analysis.’ Menopause. 16(5): p. 984-91.
9.    Castelo-Branco, C., M.J. Martinez de Osaba, F. Pons, E. Casals, A. Sanjuan, J.J. Vicente, and J.A. Vanrell, (1999) ‘Ossein-hydroxyapatite compounds for preventing postmenopausal bone loss. Coadjuvant use with hormone replacement therapy.’ J Reprod Med. 44(3): p. 241-6.
10.    Ciria-Recasens, M., J. Blanch-Rubio, M. Coll-Batet, M. Del Pilar Lisbona-Perez, A. Diez-Perez, J. Carbonell-Abello, J. Manasanch, and L. Perez-Edo, (2011) ‘Comparison of the effects of ossein-hydroxyapatite complex and calcium carbonate on bone metabolism in women with senile osteoporosis: a randomized, open-label, parallel-group, controlled, prospective study.’ Clin Drug Investig. 31(12): p. 817-24.
11.    Epstein, O., Y. Kato, R. Dick, and S. Sherlock, (1982) ‘Vitamin D, hydroxyapatite, and calcium gluconate in treatment of cortical bone thinning in postmenopausal women with primary biliary cirrhosis.’ Am J Clin Nutr. 36(3): p. 426-30.
12.    Fernandez-Pareja, A., E. Hernandez-Blanco, J.M. Perez-Maceda, V.J. Riera Rubio, J.H. Palazuelos, and J.M. Dalmau, (2007) ‘Prevention of osteoporosis: four-year follow-up of a cohort of postmenopausal women treated with an ossein-hydroxyapatite compound.’ Clin Drug Investig. 27(4): p. 227-32.
13.    Pelayo, I., J. Haya, J.J. De la Cruz, C. Seco, J.I. Bugella, J.L. Diaz, J.M. Bajo, and M. Repolles, (2008) ‘Raloxifene plus ossein-hydroxyapatite compound versus raloxifene plus calcium carbonate to control bone loss in postmenopausal women: a randomized trial.’ Menopause. 15(6): p. 1132-8.
14.    Imdad, A., A. Jabeen, and Z.A. Bhutta, (2011) ‘Role of calcium supplementation during pregnancy in reducing risk of developing gestational hypertensive disorders: a meta-analysis of studies from developing countries.’ BMC Public Health. 11 Suppl 3: p. S18.
15.    Bergel, E., L. Gibbons, M.G. Rasines, A. Luetich, and J.M. Belizan, (2010) ‘Maternal calcium supplementation during pregnancy and dental caries of children at 12 years of age: follow-up of a randomized controlled trial.’ Acta Obstet Gynecol Scand. 89(11): p. 1396-402.

 

Chia sẻ bài viết:Share on Facebook0Tweet about this on TwitterShare on Google+0Email this to someoneBuffer this pageShare on LinkedIn0Digg thisShare on Reddit0