Một nghiên cứu mới cho thấy nồng độ axit docosahexaenoic (DHA) huyết tương của người mẹ khi mang thai cao hơn có liên quan tới kiểu ngủ trưởng thành hơn của trẻ sơ sinh

Am J Clin Nutr 2002; 76: 608-13

Mối quan hệ và ảnh hưởng của axit docosahexaenoic (DHA) lên hệ thần kinh trung ương (CNS) của thai nhi đang phát triển và kết quả về kiểu ngủ ở trẻ sơ sinh vẫn còn chưa được khám phá. Các nhà nghiên cứu đã tiến hành nghiên cứu để kiểm tra liệu tính toàn vẹn của hệ thần kinh trung ương (CNS) ở các trẻ sơ sinh (được đo bởi các kiểu ngủ của chúng) có tương quan hay không với nồng độ của các axit béo đa không bão hoà chuỗi dài (LCPUFAs) của người mẹ, đặc biệt là DHA. Các nhà nghiên cứu kết luận rằng các kiểu ngủ của những trẻ được sinh ra bởi các bà mẹ có lượng DHA phospholipids huyết tương cao hơn sẽ tương ứng với sự trưởng thành cao hơn của hệ thần kinh trung ương (CNS).


Lượng LCPUFAs n-3 và n-6 cao, đặc biệt là DHA được tập trung ở phospholipids nằm trong não và mắt (võng mạc). Trong quá trình phát triển của phôi thai và trẻ sơ sinh, việc cung cấp đầy đủ LCPUFAs là yếu tố cần thiết đối với sự trưởng thành của não và mô mắt. Trong giai đoạn phát triển quyết định này, bào thai phụ thuộc rất nhiều vào mẹ để cung cấp đa số LCPUFAs, do đó, tình trạng LCPUFA của người mẹ là rất quan trọng.

Những ảnh hưởng của LCPUFAs lên sự phát triển của thị lực đã được nghiên cứu rõ. Tuy nhiên, ảnh hưởng của tình trạng DHA của bào thai lên bộ não đang phát triển thì chưa được nghiên cứu tỉ mỉ vì thiếu phương pháp kỹ thuật đánh giá thích hợp sử dụng trên trẻ sơ sinh. Mối liên kết giữa việc cung cấp axit béo cần thiết và các kiểu ngủ đã được tìm thấy trong các nghiên cứu khác (Fagioli và các cộng sự năm 1989, Uauy và các cộng sự năm 1996); cho thấy việc cung cấp axit béo điều chỉnh nhịp điệu thức – ngủ. Cơ sở của phát hiện này là các kiểu ngủ – thức của trẻ sơ sinh là một biểu hiện của việc kiểm soát thống nhất trung tâm. Cơ chế phức tạp trong quá trình xử lý thần kinh và thể dịch ở những vùng khác nhau của não bộ ảnh hưởng lẫn nhau để tạo ra giấc ngủ và sự tỉnh táo. Các nghiên cứu về mối liên hệ giữa việc cấu tạo trạng thái ngủ và chức năng của hệ thần kinh trung ương (CNS) cho thấy những thay đổi trong cấu trúc giấc ngủ có liên quan tới các thay đổi thần kinh trong quá trình phát triển và cũng cho thấy các kiểu ngủ không đúng có liên quan tới các khiếm khuyết thần kinh. Các nhà nghiên cứu này đã kiểm tra giả thuyết về tính toàn vẹn của hệ thần kinh trung ương (CNS) ở trẻ sơ sinh có liên quan tới kiểu ngủ – thức, bằng cách đánh giá các băng ghi giấc ngủ kéo dài thêm của trẻ và phân tích mối quan hệ của nó với tình trạng LCPUFA của người mẹ, đặc biệt là tình trạng DHA.

Những phụ nữ mang thai khoẻ mạnh (n=17) được tuyển chọn từ khoa Sản và Phụ khoa ở một bệnh viện sau khi họ được nhập viện để sinh và được chia làm 2 loại (1) DHA cao (3.0% trọng lượng tổng các axit béo; n=10) và (2) DHA thấp (≤3.0% trọng lượng tổng các axit béo; n=7). Ở thời điểm sinh, máu trong tĩnh mạch của người mẹ được thu thập để đo tình trạng PUFA (các axit béo đa không bão hoà) của người mẹ, kết quả này cũng tương ứng với tình trạng PUFA của trẻ. Các băng ghi giấc ngủ của trẻ được thu lại bằng cách sử dụng Hệ thống Kiểm soát Vận động (MMS) đối với toàn bộ khoảng thời gian lưu viện của trẻ. Nguyên tắc cơ bản làm cơ sở cho các băng ghi giấc ngủ này là mỗi trạng thái ngủ hay thức đều liên quan tới một kiểu vận động đặc biệt được tạo ra bởi sự hô hấp và cử động của cơ thể. MMS bao gồm một miếng đệm cảm ứng được nối với một bộ khuyếch đại dẫn tới một máy ghi số liệu trong 24 giờ nhỏ. Miếng đệm cảm ứng được đặt dưới nệm trong cũi của trẻ. Một kênh dẫn đặc biệt các tín hiệu tương tự xuất phát từ sự hô hấp và cử động cơ thể của đứa trẻ được lưu giữ lại trong một bản ghi dữ liệu và được phân tích. Các bản phân tích hồi quy tuyến tính đơn biến được sử dụng để mô tả mối quan hệ giữa tình trạng LCPUFA của người mẹ và các số đo về giấc ngủ của trẻ.

Nghiên cứu này cho thấy rằng những trẻ trong nhóm DHA cao có kiểu phát triển hệ thần kinh trung ương CNS trưởng thành hơn những trẻ trong nhóm DHA thấp. Thêm vào đó, những trẻ có DHA cao có ít “giấc ngủ động” (trẻ gần như ngủ nhưng vẫn chuyển động và thỉnh thoảng đạp chân tay như đang mơ) (AS) hơn và có thời gian “ngủ yên” (trẻ ngủ và gần như không có những cử động đáng kể) (QS) dài hơn. Những giới hạn của nghiên cứu này là phép phân tích tương quan với thiết kế nghiên cứu có tính mô tả và không ngẫu nhiên. Các kết quả này cung cấp bằng chứng là bổ sung lượng DHA cao hơn trước khi sinh dẫn đến kiểu trưởng thành hơn của trạng thái ngủ và thức. Các nhà nghiên cứu nhận thấy những đứa trẻ sơ sinh đã được tiếp cận trước khi sinh với nồng độ DHA cao thì có số các “giấc ngủ động” (AS) thấp hơn và số các “giấc ngủ yên” (QS) lớn hơn và những đứa trẻ sơ sinh đã được tiếp cận trước khi sinh với nồng độ DHA càng cao thì sự trưởng thành của hệ thần kinh trung ương càng lớn so với những đứa trẻ tiếp cận với nồng độ DHA thấp hơn. Người ta cũng ghi nhận những đứa trẻ có DHA cao biểu hiện cấu tạo giấc ngủ sớm hơn sau khi sinh và gần như là những đứa trẻ bình thường, lớn hơn. Nói chung, độ sâu của giấc ngủ tăng lên theo độ tuổi, vì vậy sự chuyển tiếp thức ngủ ít đi và sự tỉnh táo nhiều hơn ở trẻ nằm trong nhóm DHA cao phản ánh sự trưởng thành hơn. Các kết quả này trùng hợp với nghiên cứu khác (Uauay và các cộng sự năm 1996) nói rõ các tác dụng chức năng của  việc cung cấp n-3 đối với nhịp thức ngủ chứng minh nhu cầu đối với các axit béo n-3 trong quá trình phát triển ban đầu.

Người ta cũng thấy rằng tỉ lệ của tổng các axit béo n-6 trên tổng các axit béo n-3 ảnh hưởng lớn đến tính toàn vẹn của hệ thần kinh trung ương CNS. Bổ sung một tỉ lệ của LCPUFAs n-6 trên LCPUFAs n-3 lớn hơn trước khi sinh sẽ dẫn đến các kiểu ngủ mà đối ngược với khi bổ sung với một tỉ lệ của LCPUFAs n-6 trên LCPUFAs n-3 nhỏ hơn trước khi sinh và dẫn đến nồng độ DHA cao hơn. Tỉ lệ cao hơn của axit béo n-6 trên axit béo n-3 có liên quan đến việc “ngủ động” (AS) nhiều hơn, “ngủ yên” (QS) ít hơn, sự chuyển tiếp thức ngủ nhiều hơn, sự tỉnh táo ít hơn.

Các nhà nghiên cứu kết luận rằng những sự khác nhau trong việc bổ sung LCPUFAs trước khi sinh, đặc biệt là DHA, có thể thay đổi phospholipids của não và ảnh hưởng tới chức năng thần kinh. Những đứa trẻ sơ sinh được sinh ra bởi các bà mẹ có lượng DHA phospholipids huyết tương cao hơn giả thuyết có sự trưởng thành của hệ thần kinh trung ương CNS cao hơn. Hệ thống Kiểm soát Vận động (MMS) là một công cụ tin cậy để nghiên cứu sự trưởng thành của CNS của trẻ sơ sinh có liên quan tới tình trạng DHA của chúng. Theo các nhà nghiên cứu biết, đây là báo cáo đầu tiên chứng minh bằng tài liệu rằng tình trạng DHA của người mẹ trong thai kỳ bị ảnh hưởng đáng kể bởi lượng DHA trong chế độ ăn và có liên quan tới sự trưởng thành của CNS của trẻ khi sinh.

Tài liệu tham khảo:
1. Uauy R, Peirano P, Hoffman D, Mena P, Birch D, Birch E. Role of essential fatty acids in the function of the developing nervous system. Lipids. 1996 Mar;31 Suppl:S167-76.

Chia sẻ bài viết:Share on Facebook0Tweet about this on TwitterShare on Google+0Email this to someoneBuffer this pageShare on LinkedIn0Digg thisShare on Reddit0