Phòng ngừa loãng xương bằng microcrystalline hydroxyapatite (MCHA) và xem xét các yếu tố ảnh hưởng tới canxi

Khi còn trẻ, rất dễ để chúng ta nghĩ rằng mình rất khoẻ. Không cần có bất kỳ nỗ lực hay chăm sóc thực sự nào, chúng ta vẫn khỏe mạnh và có thể đáp ứng mọi nhu cầu của cuộc sống. Vì vậy, sẽ là một nhiệm vụ vô cùng khó khăn khi phải thuyết phục một ai đó chưa từng có vấn đề về sức khỏe hiểu rằng hành động của họ đang đưa họ đến với con đường dẫn tới bệnh tật. Một trong số những bệnh phổ biến nhất là bệnh loãng xương. Nếu bạn, bằng cách này hay cách khác, đã thành công trong việc thuyết phục một ai đó quan tâm chăm sóc đến xương của họ, thì vẫn còn một vấn đề nữa là phải tìm ra được cách điều trị thích hợp, điều này không đơn giản như chúng ta vẫn nghĩ.

Hiểu về các sản phẩm bổ sung canxi

Canxi là khoáng chất chính kết tinh để tạo thành mô xương (và thay thế cho xương bị mất đi). Canxi xuất hiện trong rất nhiều hợp chất khác nhau. Một số hợp chất phổ biến nhất là canxi gắn kết với cacbonat, citrat, malat, phốt phát, gluconate hoặc lactate. Các hợp chất này khác nhau bởi tổng lượng canxi nguyên tố, nhưng đây mới chỉ là một yếu tố để xác định dạng canxi nào là tốt nhất. Ngoài ra còn phải tính đến khả năng hấp thu, vận chuyển và sinh khả dụng của canxi ở dạng đó. Vì vậy, trong khi canxi cacbonat là nguồn canxi nguyên tố cao nhất thì nó lại là một trong những hợp chất canxi có sinh khả dụng tồi nhất.

Ngoài ra, việc phục hồi hoặc duy trì khối lượng xương không chỉ phụ thuộc hoàn toàn vào số lượng canxi. Có nhiều loại vitamin và khoáng chất khác cũng đóng vai trò quan trọng trong quá trình khoáng hóa xương. Độ chắc khoẻ của xương không chỉ do một mình quá trình khoáng hoá quyết định. Có một danh sách các protein quan trọng đối với cấu trúc của xương và sự hình thành xương. Nếu bỏ qua các dưỡng chất và protein này thì tất cả loại canxi trên thế giới cũng sẽ không ngăn ngừa được bệnh loãng xương, bất kể dạng đó có thể có tính sinh khả dụng tốt hơn.

Microcrystalline hydroxyapatite

Khi người ta đã nhận thức được rằng một mình canxi không thể ngăn ngừa được loãng xương, microcrystalline hydroxyapatite (MCHA) nổi lên như một lựa chọn điều trị hiệu quả vì nó đã chứng tỏ được rằng nó không những có thể làm giảm sự mất xương, mà còn có khả năng đảo ngược được quá trình này. MCHA là cấu trúc cơ bản trong xương giúp xương chắc khoẻ. MCHA thường có nguồn gốc từ xương bê, còn được gọi là ossein hydroxyapatite hoặc MCHC và khác với hydroxyapatite có nguồn gốc tổng hợp hoặc khác với đá phốt phát. Vì MCHA là một hợp chất hữu cơ tự nhiên nên nó có chứa tất cả các chất mà mô xương cần và theo đúng tỷ lệ. MCHA có chứa canxi (24%) và phốt pho (12%) theo tỷ lệ 2:1 tự nhiên, kết hợp với các protein nền, collagen loại 1, glycosaminoglycan, các khoáng chất vi lượng và các yếu tố làm tăng trưởng hoạt tính sinh học. Tất cả các thành phần gắn kết này là các yếu tố cần thiết cho sự hình thành xương chắc khoẻ, sự trao đổi chất và tái sinh của xương. MCHA có khả năng làm tăng quá trình tăng sinh, sự biệt hoá và hoạt động của tế bào tạo xương [1]. Vì vậy, các đặc tính của MCHA so với các sản phẩm bổ sung canxi cơ bản là tốt hơn rất nhiều trong việc phòng ngừa loãng xương. Hơn nữa, cấu trúc vi tinh thể tự nhiên đặc biệt và các thành phần bên trong làm cho MCHA trở thành nguồn canxi có khả năng hấp thu và khả dụng sinh học rất tốt, tạo nên một lợi thế khác biệt nữa của MCHA.

Đừng nhầm với các sản phẩm bổ sung làm từ bột xương

MCHA được xem là thế hệ mới tiếp theo của bột xương, theo các tiêu chuẩn sản xuất hiện nay, các vấn đề phát sinh với bột xương đã được loại trừ với MCHA. Trong những năm 1980, người ta phát hiện ra rằng các sản phẩm bổ sung bột xương đã bị nhiễm chì, thủy ngân và các kim loại nặng khác. Sau đó, vào những năm 1990 ở Anh, châu Âu và Bắc Mỹ, người ta lại phát hiện ra bột xương là chất truyền bệnh viêm não thể xốp ở bò (BSE hoặc ‘bệnh bò điên’). Thêm vào đó, các phương pháp xử lý và chiết xuất từ xương bò già cho thấy hiệu quả kém. Bẵng đi một thời gian, cho tới nay khoa học đã có nhiều tiến bộ hiểu biết hơn về MCHA. MCHA đã rút ra bài học từ những nhược điểm ban đầu của bột xương và được kiểm nghiệm nghiêm ngặt về ô nhiễm, MCHA có nguồn gốc từ bê và tất cả các protein đều được giữ lại (không bị phá hủy trong quá trình xử lý), trong khi đó việc kiểm soát chất lượng đảm bảo không có bất kỳ khả năng truyền bệnh viêm não thể xốp nào. Các nguồn MCHA có chất lượng tốt nhất là từ Úc hoặc Niu Di-lân, là hai nước chưa từng có một ca BSE nào và luôn có các chương trình giám sát toàn diện để ngăn chặn căn bệnh này xâm nhập vào đất nước mình. Vì vậy, với kiến thức và điều kiện sản xuất hiện nay, MCHA (có nguồn gốc từ Úc hoặc Niu Di-lân) được coi là có hiệu quả hơn bất kỳ sản phẩm bổ sung canxi nào khác trên thị trường.

Bằng chứng về tính hiệu quả của MCHA

Bổ sung MCHA cho phụ nữ hậu mãn kinh có hiệu quả trong việc ngăn ngừa quá trình mất xương hoặc giảm mật độ xương trong một khoảng thời gian từ 1 đến 4 năm [2-6]. Thêm vào đó, một số nghiên cứu đã chứng minh việc bổ sung MCHA có thể làm đảo ngược đáng kể quá trình chuyển hóa xương và tăng mật độ xương [2, 4, 6] hay độ dày vỏ xương [5] so với điểm ban đầu. Các nghiên cứu khác đã chứng minh MCHA có thể làm giảm đáng kể sự mất xương, nhiều hơn so với đối chứng giả dược hoặc các sản phẩm bổ sung canxi khác [7, 8]. MCHA cũng đã được chứng minh có thể làm chậm đáng kể tiến triển loãng xương và giảm bệnh đau lưng có liên quan ở những bệnh nhân có nguy cơ loãng xương. Sau 12 tháng thử nghiệm, chỉ có 10% bệnh nhân dùng MCHA vẫn còn đau một chút, trong khi đó 100% nhóm đối chứng báo cáo rằng cơn đau vẫn như cũ hoặc trở nên tồi tệ hơn.

Nhìn chung, các nghiên cứu lâm sàng cho thấy MCHA là một lựa chọn điều trị an toàn, thuận lợi cho những người có nguy cơ loãng xương. Đáng chú ý nhất là MCHA cho thấy khả năng không chỉ làm giảm quá trình mất xương mà còn giúp khôi phục lại và làm tăng mật độ xương. Lý do tại sao MCHA lại rất hiệu quả như vậy có thể là do nó có chứa canxi đã ở dạng hoạt tính sinh học kết hợp với các protein xương quan trọng cần thiết cho sự hình thành xương.

So sánh với các dạng canxi khác

Một bản phân tích tổng hợp khá gần đây đã so sánh tính hiệu quả của MCHA với canxi cacbonat [1]. Từ 6 thử nghiệm đối chứng ngẫu nhiên trong phân tích này, MCHA cho thấy có hiệu quả hơn nhiều so với canxi cacbonat trong việc cải thiện mật độ xương và ngăn ngừa mất xương. Ngoài những thử nghiệm này, hai nghiên cứu nữa [4, 7] cũng cho thấy sự vượt trội của MCHA so với canxi cacbonat, và hai nghiên cứu khác [5, 9] cũng có cùng một kết luận về sự vượt trội của MCHA so với canxi gluconate. Cho đến nay vẫn chưa có nghiên cứu nào so sánh MCHA với canxi citrate về tác động đến mật độ xương và sự mất xương.

Các nhân tố ảnh hưởng đến canxi cần được biết

Có rất nhiều yếu tố giúp tăng cường hoặc cản trở lượng canxi lắng đọng trong xương. Việc hiểu biết các tương tác này cũng quan trọng như bản thân việc bổ sung canxi.

Tăng cường

Vitamin D hỗ trợ quá trình hấp thu, vận chuyển và lắng đọng canxi trong xương. Những vai trò này của vitamin D đã được công nhận rõ ràng, do vậy nếu bổ sung canxi mà không bổ sung vitamin D thì chỉ làm lãng phí thời gian của bạn.

Vitamin K hỗ trợ quá trình lắng đọng canxi và hình thành xương chắc khoẻ vì nó cần thiết cho việc biến đổi hậu giải mã của protein xương, osteocalcin. Với vai trò là một đồng yếu tố của enzyme carboxylase gammaglutamate (GGCX), vitamin K cần cho các phản ứng carboxyl hóa của osteocalcin, biến đổi gốc glutamate thành gốc của axit glutamic (Gla) có ái lực gắn kết mạnh mẽ với canxi. Sau sự thay đổi này, osteocalcin đã được carboxyl hoá gắn kết với canxi và lắng đọng trong mô xương ở dạng mạnh nhất, là cấu trúc hydroxyapatite vòng 6.

Các dạng canxi kiềm (ví dụ như muối cacbonat, phốt phát) được khuyến cáo dùng trong hoặc ngay sau khi ăn. Khả năng hấp thu đầy đủ của chúng dựa vào sự có mặt của axit trong dạ dày. Các hợp chất canxi có tính axit (ví dụ như citrate, malate) không cần axit của dạ dày để hấp thu vì vậy có thể được dùng trong hoặc không trong bữa ăn.

Thời gian dùng một sản phẩm bổ sung canxi cũng là một yếu tố. Các dao động nhịp điệu sinh học của PTH (hormone tuyến cận giáp) ảnh hưởng tới lượng osteoprotegrin và hoạt động của tế bào tạo xương và tế bào hủy xương, hỗ trợ quá trình khoáng hoá xương vào ban ngày và mất xương vào ban đêm [10]. Tính nhịp điệu này tạo ra nhu cầu canxi lớn hơn vào ban đêm để ngăn chặn sự gia tăng ở PTH và giảm bớt sự mất xương xảy ra vào ban đêm. Vì vậy bổ sung canxi vào buổi tối có hiệu quả lớn hơn đối với mật độ xương [11].

Cản trở

Thực phẩm có chứa phytate (chẳng hạn như bột yến mạch, ngũ cốc, lúa mạch đen, lúa mì nguyên chất, các loại hạt, hạt, đậu, khoai tây, mâm xôi, dâu tây, bông cải xanh, cà rốt và đậu Hà Lan) có thể làm giảm lượng canxi hấp thu từ các sản phẩm bổ sung vì chúng gắn kết với canxi để tạo ra các hợp chất không hòa tan. Tuy nhiên, việc ngâm hoặc nấu thực phẩm giúp làm giảm ảnh hưởng của phytate đối với canxi. Thực phẩm có chứa oxalat cũng tạo ra các hợp chất canxi không hòa tan, nhưng chỉ tương tác trong nguồn thức ăn, do đó sẽ không ảnh hưởng đến các sản phẩm bổ sung.

Một chế độ ăn uống dư thừa protein, rượu cồn, cafêin hoặc natri có thể ảnh hưởng đến tính khả dụng của canxi và làm tăng sự đào thải canxi.

Một liều đơn không nên vượt quá 500mg canxi vì đây là lượng canxi tối đa mà ruột có thể hấp thụ trong cùng một lúc. Vì vậy, nếu cần một liều hàng ngày cao hơn thì phải chia thành nhiều liều để một liều đơn không vượt quá 500mg.

Khả năng hấp thu canxi cạnh tranh với sắt, magiê và kẽm. Vì vậy, nếu uống một trong những sản phẩm bổ sung khoáng chất này, cần để khoảng cách ít nhất là 2 giờ giữa các lần uống để tối ưu hóa sự hấp thu canxi. Các thuốc như giảm axit mật, điều trị chứng ợ nóng và sử dụng corticosteroid lâu dài cũng có thể làm giảm tính khả dụng của canxi.

Nhận xét kết luận

Khi đề cập đến nỗ lực phòng ngừa loãng xương thì có rất nhiều vấn đề cần phải xem xét ngoài các biện pháp tăng lượng thu nạp canxi đơn giản. MCHA chứng tỏ khả năng đặc biệt nhằm khôi phục lại khối lượng xương mà các sản phẩm bổ sung canxi khác không thể đạt được. Bên cạnh việc dùng các sản phẩm bổ sung canxi, người ta cũng phải xem xét các yếu tố khác có thể tăng cường (như Vitamin D, Vitamin K, các vấn đề về liều lượng) hoặc cản trở (như chế độ ăn uống, phytate, protein dư thừa, bổ sung sắt) lượng canxi được lắng đọng trong xương.

Tài liệu tham khảo

1.    Castelo-Branco, C., M. Ciria-Recasens, M.J. Cancelo-Hidalgo, S. Palacios, J. Haya-Palazuelos, J. Carbonell-Abello, J. Blanch-Rubio, M.J. Martinez-Zapata, J. Manasanch, and L. Perez-Edo, (2009) ‘Efficacy of ossein-hydroxyapatite complex compared with calcium carbonate to prevent bone loss: a meta-analysis.’ Menopause. 16(5): p. 984-91.
2.    Castelo-Branco, C., M.J. Martinez de Osaba, F. Pons, E. Casals, A. Sanjuan, J.J. Vicente, and J.A. Vanrell, (1999) ‘Ossein-hydroxyapatite compounds for preventing postmenopausal bone loss. Coadjuvant use with hormone replacement therapy.’ J Reprod Med. 44(3): p. 241-6.
3.    Castelo-Branco, C., F. Pons, J.J. Vicente, A. Sanjuan, and J.A. Vanrell, (1999) ‘Preventing postmenopausal bone loss with ossein-hydroxyapatite compounds. Results of a two-year, prospective trial.’ J Reprod Med. 44(7): p. 601-5.
4.    Ciria-Recasens, M., J. Blanch-Rubio, M. Coll-Batet, M. Del Pilar Lisbona-Perez, A. Diez-Perez, J. Carbonell-Abello, J. Manasanch, and L. Perez-Edo, (2011) ‘Comparison of the effects of ossein-hydroxyapatite complex and calcium carbonate on bone metabolism in women with senile osteoporosis: a randomized, open-label, parallel-group, controlled, prospective study.’ Clin Drug Investig. 31(12): p. 817-24.
5.    Epstein, O., Y. Kato, R. Dick, and S. Sherlock, (1982) ‘Vitamin D, hydroxyapatite, and calcium gluconate in treatment of cortical bone thinning in postmenopausal women with primary biliary cirrhosis.’ Am J Clin Nutr. 36(3): p. 426-30.
6.    Fernandez-Pareja, A., E. Hernandez-Blanco, J.M. Perez-Maceda, V.J. Riera Rubio, J.H. Palazuelos, and J.M. Dalmau, (2007) ‘Prevention of osteoporosis: four-year follow-up of a cohort of postmenopausal women treated with an ossein-hydroxyapatite compound.’ Clin Drug Investig. 27(4): p. 227-32.
7.    Pelayo, I., J. Haya, J.J. De la Cruz, C. Seco, J.I. Bugella, J.L. Diaz, J.M. Bajo, and M. Repolles, (2008) ‘Raloxifene plus ossein-hydroxyapatite compound versus raloxifene plus calcium carbonate to control bone loss in postmenopausal women: a randomized trial.’ Menopause. 15(6): p. 1132-8.
8.    Ruegsegger, P., A. Keller, and M.A. Dambacher, (1995) ‘Comparison of the treatment effects of ossein-hydroxyapatite compound and calcium carbonate in osteoporotic females.’ Osteoporos Int. 5(1): p. 30-4.
9.    Windsor, A.C., D.P. Misra, J.M. Loudon, and G.E. Staddon, (1973) ‘The effect of whole-bone extract on 47Ca absorption in the elderly.’ Age Ageing. 2(4): p. 230-4.
10.    Joseph, F., B.Y. Chan, B.H. Durham, A.M. Ahmad, S. Vinjamuri, J.A. Gallagher, J.P. Vora, and W.D. Fraser, (2007) ‘The circadian rhythm of osteoprotegerin and its association with parathyroid hormone secretion.’ J Clin Endocrinol Metab. 92(8): p. 3230-8.
11.    Blumsohn, A., K. Herrington, R.A. Hannon, P. Shao, D.R. Eyre, and R. Eastell, (1994) ‘The effect of calcium supplementation on the circadian rhythm of bone resorption.’ J Clin Endocrinol Metab. 79(3): p. 730-5.
.

 

Chia sẻ bài viết:Share on Facebook0Tweet about this on TwitterShare on Google+0Email this to someoneBuffer this pageShare on LinkedIn0Digg thisShare on Reddit0