PM Procare, Tại sao chúng ta lại cần bổ sung dầu cá ngừ và DHA với hàm lượng cao?

Đánh giá các tác dụng của các axit béo Omega-3 đối với việc thụ thai, mang thai và cho con bú.

PMProcare được thiết kế đặc biệt để bổ sung dinh dưỡng cho tất cả các giai đoạn từ lúc trước khi thụ thai, và trong suốt thời gian mang thai cho tới thời gian cho con bú. Nó cung cấp các chất dinh dưỡng như các axit béo không no có nhiều nối đôi DHA và EPA, (các axit béo omega-3), cần thiết cho sức khỏe của cả mẹ và con. Bổ sung DHA với hàm lượng lớn cần thiết cho sự phát triển nhận thức và thị giác tốt nhất ở thai nhi và trẻ sơ sinh, và để giảm nguy cơ sinh non. Thậm chí các axit béo Omega-3 còn cần hơn cho những người mang đa thai và mang thai quá dày vì nhu cầu DHA, EPA ở những người này tăng lên. [1] [2]. PMProcare có chứa các dưỡng chất thiết yếu cần bổ sung thêm trong giai đoạn đặc biệt này.

Trong khi dầu cá và các axit béo omega-3 được biết đến nhiều nhờ các tác dụng của chúng đối với sức khỏe tim mạch, sức khỏe miễn dịch, viêm khớp, não, mắt và tâm thần nói chung, thì đối với những phụ nữ mang thai và đang cho con bú DHA là quan trọng nhất trong số các axit béo không no có nhiều nối đôi. Tác dụng sinh lý quan trọng của DHA được truyền từ mẹ sang con qua nhau thai thông qua trung gian là các protein chuyển axit béo đặc hiệu (FATP-1 và FATP-4) và các protein gắn kết màng tạo thuận lợi vận chuyển DHA qua nhau thai hơn là các axit béo khác như LA [3] [4].

Dưới đây là tóm tắt các tác dụng quan trọng nhất của Omega-3 được cung cấp bởi nghiên cứu khoa học có chất lượng:

Các tác dụng Khi nào cần bổ sung
Trước Trong Sau
Cần cho sức khỏe sinh sản và thụ thai:

  • Có bằng chứng rõ ràng rằng việc bổ sung các axit béo đa không bão hòa qua chế độ ăn uống (PUFA) có thể ảnh hưởng tới quá trình tổng hợp sinh học có liên quan tới cả việc tổng hợp prostaglandin và steroidogenesis hai chất đóng vai lớn trong việc điều tiết chức năng sinh sản. Thành phần PUFA của các màng tế bào trong tinh dịch và noãn bào là rất quan trọng trong khi thụ thai [5]. Có 4 vấn đề về sinh sản mà PUFA được cho là tạo nên sự khác biệt:  thụ thai, hoạt động của tử cung, đẻ non, và sức khỏe sinh sản ở đàn ông[6].
  • Các nghiên cứu gần đây cho thấy rằng ở những phụ nữ vô sinh thì lượng axit eicosapentaenoic và erythrocyte docosahexaenoic trong máu giảm, và lượng MDA, một chất chống oxy hóa có trong các axit béo thiết yếu, lại tăng lên. Điều này cho thấy rằng việc oxidative stress tăng lên và làm biến đổi các axit béo đa không bão hòa có liên quan tới vô sinh. [7]
Truyền cho thai nhi và trẻ sơ sinh:

  • Chế độ ăn của người mẹ có dung nạp các axit béo omega-3 ảnh hưởng tới lượng chất dinh dưỡng truyền cho thai nhi.
  • Những phụ nữ đang cho con bú được bổ sung DHA thì hàm lượng DHA trong sữa mẹ sẽ tăng lên, giữa lượng DHA mà người mẹ dung nạp và lượng DHA có trong sữa mẹ tồn tại một mối quan hệ phụ thuộc liều.[8]
  • Hàm lượng các axit béo đa không bão hòa chuỗi dài (LCPUFA) trong sữa mẹ phản ánh hàm lượng LCPUFA trong cơ thể người mẹ ở những phụ nữ sinh đủ tháng [9]

Để đảm bảo có đủ DHA cho con mình, những phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ được khuyến cáo nên dùng ít nhất 200mg DHA một ngày [10].

Kết quả sinh:

  • Dùng Omega 3 trong thời gian mang thai làm giảm nguy cơ sinh non sớm bao gồm cả giảm nguy cơ tái phát sinh non [11]; dẫn tới thời gian mang thai dài hơn, cân nặng, chiều dài và chu vi vòng đầu của đứa trẻ lúc sinh ra cao hơn [12] [13] [14] [15] [16] [17] [18].
Sức khỏe não và mắt của thai nhi và trẻ nhỏ:

  • Cung cấp đủ DHA cần thiết cho sự phát triển nhận thức và thị giác tối ưu ở trẻ sơ sinh và thai nhi. Đặc biệt não bắt đầu tích lũy DHA khi còn trong tử cung,  sự tích tụ được ghi nhận đáng kể về mặt số lượng trong nửa sau của thai kỳ, và tăng nhanh đặc biệt từ nửa sau của thai kỳ cho tới trước khi sinh và trong một vài năm đầu đời [10].
Sự phát triển thần kinh vận động ở trẻ em:

  • Sự phát triển thần kinh vận động ở trẻ em và trẻ sơ sinh, như sự phối hợp hoàn hảo giữa mắt và tay, có mối tương quan rõ rệt với việc dung nạp omega-3 cả trước và sau khi sinh [19] [20] [21] [22] [23].
Sức khỏe miễn dịch, tâm thần của mẹ và con, và sinh non

Những phụ nữ mang thai thường rất dễ bị căng thẳng và trầm cảm. Các nghiên cứu cho thấy:

    • Có một mối liên hệ luẩn quẩn giữa phụ nữ mang thai bị trầm cảm và sinh non [24].
    • Những đứa trẻ bị sinh non thì sau này thường dễ bị trầm cảm hơn [25].
    • Những bà mẹ sinh non thường dễ bị trầm cảm sau khi sinh hơn [26].
    • Căng thẳng về mặt thể xác trong giai đoạn trước và ngay sau khi sinh có thể làm cho đứa trẻ mới sinh bị tổn thương hơn dẫn tới các bệnh qua trung gian miễn dịch hay các bệnh nhiễm độc miễn dịch, để lại hậu quả lâu dài [27], và tâm trạng của người mẹ trong thời gian mang thai có thể ảnh hưởng tới sự phát triển miễn dịch của thai nhi [28].
    • Các nghiên cứu dịch tễ ở một số nước trong thế kỷ trước cho thấy rằng giảm dung nạp các axit béo n-3 đồng nghĩa với việc tăng tỉ lệ trầm cảm[29]. Lượng DHA ở cơ thể người mẹ lớn hơn và dùng nhiều các axit béo omega-3 hơn sẽ giúp cải thiện sức khỏe tâm thần nói chung và trầm cảm sau khi sinh [30]; trong giai đoạn sau khi sinh lượng DHA ở những bà mẹ có triệu chứng trầm cảm giảm đi [31]
    • Cung cấp omega-3 sớm có thể điều chỉnh đáp ứng miễn dịch và có tác dụng đối với sức khỏe miễn dịch của con bạn cả khi chúng còn là trẻ sơ sinh / trẻ nhỏ và cả về sau này [32] [33] [34] [28] [35] [36] [37] [38].

 √  √
Sức khỏe tim mạch của con bạn

  • Dung nạp omega-3 ở trẻ sơ sinh làm cho huyết áp giảm đi khi đứa trẻ ở độ tuổi lên 6 [39] và điều này có thể vẫn tiếp tục có ảnh hưởng trong việc làm giảm huyết áp và giảm các nguy cơ mắc bệnh tim mạch. [10]
Biến chứng thai kỳ

    • Bằng chứng lâm sàng ban đầu cho thấy bổ sung dầu cá có thể kéo dài thai kỳ và giảm lượng thromboxane A2 được cho là nguyên nhân gây ra sự co mạch, tụ tiểu huyết cầu, và phong huyết tử cung nhau giảm mà có liên quan tới chứng tiền sản giật [40].
    • Omega 3 có thể có tác dụng ngăn ngừa sảy thai tái diễn có liên quan tới các kháng thể antiphospholipid  (APL)[41]

PMProcare có chứa dầu cá ngừ (tự nhiên) có tỉ lệ DHA:EPA cao nhất (4.33: 1 hay 26 DHA:6 EPA) trong số các loài cá được đánh bắt để kinh doanh. Một nghiên cứu về thành phần sữa mẹ trong giai đoạn đang cho con bú được tiến hành ở 9 nước [42] cho thấy rằng tỉ lệ DHA:EPA trong dầu cá ngừ tương đương như trong sữa mẹ và  tỉ lệ này sát hơn bất kỳ các loại axit béo nào khác. Theo Dr.Krebs, nghiên cứu của ông về bộ não sử dụng đáp ứng cơ trực tiếp cho thấy rằng tỉ lệ hiệu quả nhất để tối ưu hóa chức năng của não, đặc biệt chức năng quyết định của thùy trước là 3:1 (DHA:EPA), chỉ có dầu có ngừ tự nhiên chất lượng cao mới có tỉ lệ DHA:EPA đúng như vậy, và điều này hỗ trợ chức năng tâm thần tốt nhất.

Các tác dụng trên của dầu cá ngừ trong PMProcare cũng được tăng cường bởi các thành phần khác có trong sản phẩm, như:

Sức khỏe sinh sản Được hỗ trợ bởi các chất chống oxi hóa như các vitamin nhóm B, vitamin C, E, và kẽm. Các chất chống oxi hóa có đặc tính bảo vệ, giảm nguy cơ bị tổn thương hóa chất tới trứng và tinh trùng.
Sức khỏe não& mắt Axit folic cần cho sự phân bào và hệ thần kinh, những đặc biệt là cần để ngăn ngừa khuyết tật ống thần kinh; I ốt cần cho não, thị giác và thính giác. Thiếu i ốt trong giai đoạn phát triển của thai nhi và trẻ sơ sinh dẫn tới tổn thương không tránh khỏi của não và hệ thần kinh trung ương
Sức khỏe miễn dịch Kẽm, Beta-carotene, Vitamin B6, và D được chứng minh là có tác dụng đối với sức khỏe miễn dịch
Sức khỏe tâm thần Thiếu Magie, kali, kẽm, axit folic, và vitamin D là nguyên nhân cơ bản gây ra trầm cảm, trong khi mangan, vitamin B6 và vitamin C có thể giúp làm giảm bệnh này.

Nói tóm lại, dầu cá ngừ có đóng góp chính vào tác dụng của PMProcare, nhưng nó không hoạt động đơn lẻ một mình mà là một phần không thể tác rời của công thức độc đáo cho giai đoạn rất đặc biệt trong cuộc đời người phụ nữ.

PMProcare được chọn lọc từ những nhà sản xuất đạt chất lượng. Như dầu cá ngừ được sản xuất bởi Nu-mega, một công ty con của công ty được đăng ký tại Australia dưới tên Clover Corp. Không phải bất kỳ loại cá ngừ nào Nu-mega cũng sử dụng. Họ chỉ thu hoạch dầu cá từ những loại được lựa chọn như Albacore, Skipjack và Big Eye, được đánh bắt từ vùng biển sạch Nam Thái Bình Dương. Hơn nữa qui trình quản lý chất lượng giúp đảm bảo rằng các chất gây ô nhiễm được kiểm soát chặt chẽ. Các vitamin và khoáng chất có trong PMProcare được sản xuất bởi các nhà máy có chất lượng, như Roche và Cognis của châu Âu. Các nhà máy này đều đạt tiêu chuẩn GMP, đảm bảo các nguyên liệu đạt dược phẩm đạt tiêu chuẩn.

Tại Australia PMProcare được quản lý như một sản phẩm dược phẩm và tuân thủ theo tất cả các qui định nghiêm ngặt của cục quản lý dược Australia (TGA), một trong những cơ quan quản lý y tế nghiêm ngặt nhất trên thế giới. Nhà máy phải đạt tiêu chuẩn qui trình sản xuất tốt (GMP) từ khâu đầu vào cho tới thành phẩm, trước khi đưa ra thị trường. Ngoài ra, các yêu cầu giám sát sản phẩm sau khi đưa ra thị trường đảm bảo rằng sản phẩm được quản lý và giám sát sau khi chúng ra khỏi kho của nhà máy bởi các nhà quản lý và chúng tôi, người sở hữu sản phẩm.

Để biết thêm thông tin, hãy truy cập trang web www.procare-central.com hoặc gọi đến tổng đài 1800 339 890

Tài liệu tham khảo

  1. McFadyen, M., J. Farquharson, and F. Cockburn, Maternal and umbilical cord erythrocyte omega-3 and omega-6 fatty acids and haemorheology in singleton and twin pregnancies. Arch Dis Child Fetal Neonatal Ed, 2003. 88(2): p. F134-8.
  2. Zeijdner, E.E., et al., Essential fatty acid status in plasma phospholipids of mother and neonate after multiple pregnancy. Prostaglandins Leukot Essent Fatty Acids, 1997. 56(5): p. 395-401.
  3. Koletzko, B., E. Larque, and H. Demmelmair, Placental transfer of long-chain polyunsaturated fatty acids (LC-PUFA). J Perinat Med, 2007. 35 Suppl 1: p. S5-11.
  4. Larque, E., et al., Expression pattern of fatty acid transport protein-1 (FATP-1), FATP-4 and heart-fatty acid binding protein (H-FABP) genes in human term placenta. Early Hum Dev, 2006. 82(10): p. 697-701.
  5. Aitken, R.J. and H.W. Baker, Seminal leukocytes: passengers, terrorists or good samaritans? Hum Reprod, 1995. 10(7): p. 1736-9.
  6. Wathes, D.C., D.R. Abayasekara, and R.J. Aitken, Polyunsaturated fatty acids in male and female reproduction. Biol Reprod, 2007. 77(2): p. 190-201.
  7. Mehendale, S.S., et al., Oxidative stress-mediated essential polyunsaturated fatty acid alterations in female infertility. Hum Fertil (Camb), 2009. 12(1): p. 28-33.
  8. Atalah, S.E., et al., [Consumption of a DHA-enriched milk drink by pregnant and lactating women, on the fatty acid composition of red blood cells, breast milk, and in the newborn]. Arch Latinoam Nutr, 2009. 59(3): p. 271-7.
  9. Kilari, A.S., et al., Long chain polyunsaturated fatty acids in mothers and term babies. J Perinat Med, 2009. 37(5): p. 513-8.
  10. Koletzko, B., et al., The roles of long-chain polyunsaturated fatty acids in pregnancy, lactation and infancy: review of current knowledge and consensus recommendations. J Perinat Med, 2008. 36(1): p. 5-14.
  11. Olsen, S.F., et al., Randomised clinical trials of fish oil supplementation in high risk pregnancies. Fish Oil Trials In Pregnancy (FOTIP) Team. BJOG, 2000. 107(3): p. 382-95.
  12. Olsen, S.F., et al., [Fish oil supplementation and duration of pregnancy. A randomized controlled trial]. Ugeskr Laeger, 1994. 156(9): p. 1302-7.
  13. Horvath, A., B. Koletzko, and H. Szajewska, Effect of supplementation of women in high-risk pregnancies with long-chain polyunsaturated fatty acids on pregnancy outcomes and growth measures at birth: a meta-analysis of randomized controlled trials. Br J Nutr, 2007. 98(2): p. 253-9.
  14. Koletzko, B., I. Cetin, and J.T. Brenna, Dietary fat intakes for pregnant and lactating women. Br J Nutr, 2007. 98(5): p. 873-7.
  15. Makrides, M., L. Duley, and S.F. Olsen, Marine oil, and other prostaglandin precursor, supplementation for pregnancy uncomplicated by pre-eclampsia or intrauterine growth restriction. Cochrane Database Syst Rev, 2006. 3: p. CD003402.
  16. Szajewska, H., A. Horvath, and B. Koletzko, Effect of n-3 long-chain polyunsaturated fatty acid supplementation of women with low-risk pregnancies on pregnancy outcomes and growth measures at birth: a meta-analysis of randomized controlled trials. Am J Clin Nutr, 2006. 83(6): p. 1337-44.
  17. Helland, I.B., et al., Similar effects on infants of n-3 and n-6 fatty acids supplementation to pregnant and lactating women. Pediatrics, 2001. 108(5): p. E82.
  18. Thorsdottir, I., et al., Association of fish and fish liver oil intake in pregnancy with infant size at birth among women of normal weight before pregnancy in a fishing community. Am J Epidemiol, 2004. 160(5): p. 460-5.
  19. Bouwstra, H., et al., Long-chain polyunsaturated fatty acids have a positive effect on the quality of general movements of healthy term infants. Am J Clin Nutr, 2003. 78(2): p. 313-8.
  20. Bouwstra, H., et al., Long-chain polyunsaturated fatty acids and neurological developmental outcome at 18 months in healthy term infants. Acta Paediatr, 2005. 94(1): p. 26-32.
  21. Bouwstra, H., et al., Relationship between umbilical cord essential fatty acid content and the quality of general movements of healthy term infants at 3 months. Pediatr Res, 2006. 59(5): p. 717-22.
  22. Bouwstra, H., et al., Neurologic condition of healthy term infants at 18 months: positive association with venous umbilical DHA status and negative association with umbilical trans-fatty acids. Pediatr Res, 2006. 60(3): p. 334-9.
  23. Dunstan, J.A., et al., Cognitive assessment of children at age 2(1/2) years after maternal fish oil supplementation in pregnancy: a randomised controlled trial. Arch Dis Child Fetal Neonatal Ed, 2008. 93(1): p. F45-50.
  24. Li, D., L. Liu, and R. Odouli, Presence of depressive symptoms during early pregnancy and the risk of preterm delivery: a prospective cohort study. Hum Reprod, 2009. 24(1): p. 146-53.
  25. Early Emergence of Behavior and Social-Emotional Problems in Very Preterm Infants. Journal of the American Academy of Child & Adolescent Psychiatry, 2009. September 2009 – Volume 48 – (Issue 9 – doi: 10.1097/CHI.0b013e3181af8235): p. pp 909-918.
  26. Padovani, F.H., et al., Anxiety, dysphoria, and depression symptoms in mothers of preterm infants. Psychol Rep, 2009. 104(2): p. 667-79.
  27. Bellinger, D.L., C. Lubahn, and D. Lorton, Maternal and early life stress effects on immune function: relevance to immunotoxicology. J Immunotoxicol, 2008. 5(4): p. 419-44.
  28. Mattes, E., et al., Maternal mood scores in mid-pregnancy are related to aspects of neonatal immune function. Brain Behav Immun, 2009. 23(3): p. 380-8.
  29. Hibbeln, J.R. and N. Salem, Jr., Dietary polyunsaturated fatty acids and depression: when cholesterol does not satisfy. Am J Clin Nutr, 1995. 62(1): p. 1-9.
  30. Hibbeln, J.R., Seafood consumption, the DHA content of mothers’ milk and prevalence rates of postpartum depression: a cross-national, ecological analysis. J Affect Disord, 2002. 69(1-3): p. 15-29.
  31. Otto, S.J., R.H. de Groot, and G. Hornstra, Increased risk of postpartum depressive symptoms is associated with slower normalization after pregnancy of the functional docosahexaenoic acid status. Prostaglandins Leukot Essent Fatty Acids, 2003. 69(4): p. 237-43.
  32. Field, C.J., et al., Lower proportion of CD45R0+ cells and deficient interleukin-10 production by formula-fed infants, compared with human-fed, is corrected with supplementation of long-chain polyunsaturated fatty acids. J Pediatr Gastroenterol Nutr, 2000. 31(3): p. 291-9.
  33. Dunstan, J.A. and S.L. Prescott, Does fish oil supplementation in pregnancy reduce the risk of allergic disease in infants? Curr Opin Allergy Clin Immunol, 2005. 5(3): p. 215-21.
  34. Gottrand, F., Long-chain polyunsaturated fatty acids influence the immune system of infants. J Nutr, 2008. 138(9): p. 1807S-1812S.
  35. Prescott, S.L., et al., Maternal fish oil supplementation in pregnancy modifies neonatal leukotriene production by cord-blood-derived neutrophils. Clin Sci (Lond), 2007. 113(10): p. 409-16.
  36. Field, C.J., et al., Effect of providing a formula supplemented with long-chain polyunsaturated fatty acids on immunity in full-term neonates. Br J Nutr, 2008. 99(1): p. 91-9.
  37. Blumer, N. and H. Renz, Consumption of omega3-fatty acids during perinatal life: role in immuno-modulation and allergy prevention. J Perinat Med, 2007. 35 Suppl 1: p. S12-8.
  38. Furuhjelm, C., et al., Fish oil supplementation in pregnancy and lactation may decrease the risk of infant allergy. Acta Paediatr, 2009. 98(9): p. 1461-7.
  39. Forsyth, J.S., et al., Long chain polyunsaturated fatty acid supplementation in infant formula and blood pressure in later childhood: follow up of a randomised controlled trial. BMJ, 2003. 326(7396): p. 953.
  40. Sorensen, J.D., et al., Effects of fish oil supplementation in the third trimester of pregnancy on prostacyclin and thromboxane production. Am J Obstet Gynecol, 1993. 168(3 Pt 1): p. 915-22.
  41. Rossi, E. and M. Costa, Fish oil derivatives as a prophylaxis of recurrent miscarriage associated with antiphospholipid antibodies (APL): a pilot study. Lupus, 1993. 2(5): p. 319-23.
  42. Yuhas, R., K. Pramuk, and E.L. Lien, Human milk fatty acid composition from nine countries varies most in DHA. Lipids, 2006. 41(9): p. 851-8.
  43. Krebs, D.C., NUTRITION FOR THE BRAIN: FEEDING YOUR BRAIN FOR OPTIMAL PERFORMANCE.

 

Chia sẻ bài viết:Share on Facebook0Tweet about this on TwitterShare on Google+0Email this to someoneBuffer this pageShare on LinkedIn0Digg thisShare on Reddit0