PM Procare: Thông tin chi tiết

 
 

Thông tin cụ thể về các thành phần của PM Procare và vai trò của chúng đối với thời kỳ trước khi thụ thai, mang thai và cho con bú.

Ngoài việc đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng hàng ngày của cơ thể, việc phát triển một sinh linh mới đòi hỏi chế độ ăn của bạn phải tăng lên nhiều. Mỗi người mẹ sẽ làm hết sức có thể để đem lại cho em bé sự khởi đầu tốt nhất, nhưng bất chấp những nỗ lực này, các nhu cầu rất khó đáp ứng qua chế độ ăn cơ bản hàng ngày. Thêm nữa, không chỉ đơn giản là ăn nhiều hơn mà phải làm sao kết hợp các loại thức ăn để đạt được chế độ ăn cân bằng đủ chất (có đủ các dưỡng chất từ sữa, thịt, hải sản, rau, quả và ngũ cốc).

Có ai đủ thời gian để chuẩn bị tất cả các dưỡng chất cần thiết cho một chế độ ăn cân bằng thường xuyên? Làm thế nào bạn có thể theo dõi tất cả các chất dinh dưỡng được ăn vào và biết được dưỡng chất nào bạn đang thiếu?

PM Procare được bào chế đặc biệt để giúp các bà mẹ đáp ứng được nhu cầu dinh dưỡng tăng lên trong thời gian mang thai và cho con bú. PM Procare có chứa các dưỡng chất quan trọng cần thiết cho sự phát triển của thai nhi và trẻ sơ sinh, và cho quá trình mang thai khoẻ mạnh. Mặc dù không thay thế bữa ăn cân bằng đủ chất nhưng hàng ngày PM Procare cung cấp đầy đủ 18 vi dưỡng chất thiết yếu, có thể làm cho bạn an tâm vì nhu cầu dinh dưỡng luôn được đáp ứng kể cả trong những ngày không được khoẻ!

Vậy tại sao việc thu nhận đủ các dưỡng chất này thường xuyên lại quan trọng đến vậy? Tại sao các thành phần này được lựa chọn vào công thức của PM Procare? Để trả lời các câu hỏi này và biết thêm thông tin chi tiết về các thành phần của PM Procare, xin hãy xem tiếp.

AXIT FOLIC (VITAMIN B9)

Tâm điểm: Bổ sung axit Folic ít nhất một tháng trước khi thụ thai làm giảm đáng kể tỉ lệ bị khuyết tật ống thần kinh.

Nhu cầu hàng ngày của axit folic tăng 50% trong khi mang thai và 25% trong thời gian cho con bú.*

Tổ chức y tế thế giới (WHO) khuyến cáo rằng tất cả các phụ nữ trong tuổi sinh đẻ, những người có thể có thai nên ăn tối thiểu 400mcg axit folic mỗi ngày, cùng với một chế độ ăn có lợi cho sức khoẻ, để giảm nguy cơ bị khuyết tật ống thần kinh như nứt đốt sống. PM Procare cung cấp đúng liều axit folic theo khuyến nghị của Tổ chức Y tế Thế giới (WTO) trong mỗi viên nang mềm.

Trong giai đoạn đầu tiên của thai kỳ, ống thần kinh sẽ tạo thành những phần mà sau này sẽ phát triển thành hệ thần kinh, tủy sống và não bộ. Quá trình phức tạp này đòi hỏi sự sao chép và di chuyển tế bào chính xác. Axit folic tham gia nhiều trong quá trình tổng hợp DNA và phân chia nhanh của tế bào, điều này có nghĩa là sự hình thành ống thần kinh thành công tùy thuộc vào việc cung cấp đủ axit folic. Những phụ nữ có lượng folate thấp có nguy cơ cao hơn bị ống thần kinh hình thành không đúng, dẫn tới các khuyết tật nặng nề. Sẽ mất ít nhất một tháng để làm tăng lượng axit folic dự trữ, vì vậy điều quan trọng là việc bổ sung axit folic phải bắt đầu trước khi thụ thai. Ngay khi ống thần kinh được hình thành, thì vai trò của acid folic cũng chưa hết. Sau đó, nó còn cần cho sự hình thành, phát triển và tăng trưởng của nhiều cấu trúc khác trong suốt thời gian mang thai và cho con bú.

PM Procare

Liều dùng

Chỉ dùng cho người lớn: 1 viên mỗi ngày, trong hoặc sau khi ăn hoặc theo chỉ định của bác sỹ

Đóng gói

30 viên nang mềm/lọ

Thận trọng

Không dùng quá liều quy định trừ khi có sự hướng dẫn của bác sỹ. Nếu bạn đã có con bị khuyết tật ống thần kinh / tật nứt đốt sống, hãy tham khảo ý kiến của bác sỹ chuyên khoa. Các vitamin chỉ có tác dụng bổ trợ khi vitamin đưa vào qua chế độ ăn không đủ. Có nguồn gốc từ hải sản.

 

DHA & EPA (OMEGA-3 TỪ DẦU CÁ)

Tâm điểm: Phụ nữ mang thai và cho con bú cần ăn 3 bữa hải sản một tuần để đáp ứng nhu cầu omega-3 trong giai đoạn này.

Nhu cầu hàng ngày của DHA & EPA (Omega-3) tăng 28% trong khi mang thai và 61% trong thời gian cho con bú**

Axit béo Omega-3 rất cần cho sự phát triển bình thường của mắt, não và hệ miễn dịch. Dầu cá là một nguồn giàu các axit béo Omega-3 chuỗi dài quan trọng; axit docosahexanoic (DHA) và axit eicosapentanoic (EPA) trong khi dầu omega-3 thực vật lại không chứa bất kỳ loại nào trong số các axit béo chuỗi dài này. DHA đặc biệt quan trọng cho sự phát triển của não và mắt, trong khi EPA cần thiết hơn cho sự phát triển và hoạt động chức năng của hệ miễn dịch. Cả hai axit béo này đều có vai trò trong hoạt động chức năng và cấu trúc tế bào chung mà là cốt yếu cho sự phát triển và tăng trưởng toàn diện trong giai đoạn đầu đời.

PM Procare chứa dầu cá ngừ được lựa chọn từ nhiều loại dầu cá khác nhau, vì nó là một nguồn giàu DHA nhất trong các nguồn dầu cá tự nhiên. Trong khi mang thai, não và võng mạc của thai nhi cần tích lũy DHA nhiều hết mức có thể, vì nó cần cho sự tạo thành các nơ ron thần kinh/tế bào não (tăng sinh tế bào thần kinh). Chú ý rằng quá trình này chỉ diễn ra trong giai đoạn này. Sau khi sinh, trong thời gian cho con bú, nơ ron thần kinh không được tạo thêm nữa, nhưng não và võng mạc của trẻ sơ sinh thậm chí còn cần nhiều DHA hơn để thiết lập sự kết nối giữa các nơ ron thần kinh (phát sinh các synap).

Khi não trẻ sơ sinh tiếp xúc với các trải nghiệm mới, nó cần phải có đủ DHA để bao bọc não chính xác. Sữa mẹ có thể là nguồn cung cấp DHA tốt với điều kiện chế độ ăn của người mẹ có đủ DHA (có thể từ các nguồn bổ sung hoặc thức ăn hàng ngày). Bổ sung DHA trong thời gian này cho thấy cải thiện khả năng nhận thức, học tập, hành vi, độ tập trung, ghi nhớ, phối hợp vận động và thị lực. Người mẹ có chế độ ăn nghèo DHA có thể dẫn tới tăng nguy cơ bị các vấn đề về phát triển như rối loạn khả năng học tập và hành vi.

EPA đóng vai trò rất quan trọng trong sự phát triển và hoạt động chức năng của hệ miễn dịch thông qua đặc tính chống viêm và điều chỉnh đáp ứng miễn dịch của nó. Khả năng của hệ miễn dịch được quyết định trong giai đoạn đầu đời, đó là lý do tại sao việc bổ sung EPA trong giai đoạn mang thai và cho con bú cho thấy làm giảm tỷ lệ mắc các bệnh phản ứng đặc dị, dị ứng và nhiễm trùng ở em bé.

Cả hai loại EPA & DHA là thành phần cấu thành chính của màng tế bào và ảnh hưởng tới sự phát triển và hoạt động chức năng của tế bào. Cung cấp đầy đủ các axit béo omega-3 này cho thấy giúp ích cho sự phát triển chung bằng cách giảm nguy cơ sinh non, tăng chiều dài thai kỳ và cân nặng khi sinh.

Hải sản là nguồn cung cấp DHA & EPA đáng kể duy nhất trong chế độ ăn. Vấn đề là nhu cầu của các chất dinh dưỡng này tăng lên quá nhiều nên người phụ nữ cần phải ăn ít nhất 3 bữa hải sản mỗi tuần. Rất khó để có thể tìm thấy một ai đó đáp ứng được tiêu chuẩn này trong chế độ ăn cơ bản thường ngày. Vì vậy, việc bổ sung thêm DHA & EPA trong giai đoạn quan trọng này luôn luôn được yêu cầu.

IỐT

Tâm điểm: Tỉ lệ thiếu iốt tăng đáng kể do sụt giảm nồng độ iốt trong đất và giảm sử dụng muối iốt.

Nhu cầu iốt trong chế độ ăn tăng tới 75% trong khi mang thai và cho con bú*

Iốt có vai trò đặc hiệu trong sự phát triển của thai nhi và trẻ sơ sinh; nó cần cho việc sản xuất các hormonre tuyến giáp, triiodothyronine (T3) và thyroxine (T4). Các hormone này cần thiết cho sự chuyển hóa bình thường, sự tăng trưởng và đặc biệt cho sự phát triển của não bộ liên quan nhiều tới việc hình thành và vị trí của tế bào não. Lượng bổ sung iốt cho người mẹ cần phải tăng lên để đáp ứng nhu cầu sản xuất hormone tuyến giáp tăng lên, vì thai nhi không tự tổng hợp được hormone tuyến giáp.

Từ nửa sau của thai kỳ và trong suốt thời gian cho con bú, nhu cầu iốt vẫn giữ ở mức cao vì trẻ cần iốt từ người mẹ để tổng hợp hormone tuyến giáp của mình. Trước đây, tình trạng iốt thấp là hiếm vì nó rất sẵn trong các loại rau và được bổ sung vào thức ăn (muối iốt). Tuy nhiên do sự thay đổi giảm sử dụng muối iốt toàn cầu và nồng độ iốt trong đất thấp dẫn tới sự tăng đột biến của tình trạng thiếu iốt trên toàn thế giới, và phụ nữ mang thai và cho con bú là những người có nguy cơ (thiếu) nhất vì nhu cầu iốt tăng mạnh trong các giai đoạn này. Do không đủ iốt được thu nạp chỉ từ chế độ ăn, nên người ta khuyến nghị phụ nữ mang thai và cho con bú cần dùng các sản phẩm bổ sung iốt để đảm bảo nhu cầu được đáp ứng hàng ngày.

Nghiên cứu cho thấy rằng bổ sung iốt trong các thời kỳ quan trọng này có thể cải thiện sự phát triển tâm thần vận động và khả năng của trẻ. Nhưng quan trọng hơn, việc bổ sung này có thể ngăn ngừa các hậu quả nặng nề gây ra do thiếu iốt và tình trạng suy tuyến giáp ở người mẹ. Thiếu iốt của người mẹ là nguyên nhân số một của tình trạng tổn thương não và chậm phát triển tâm thần có thể ngăn ngừa được trên thế giới. Lượng iốt thấp làm tăng đáng kể nguy cơ sinh non, chậm tăng trưởng và chậm phát triển trí tuệ (chứng đần độn) và rất nhiều các rối loạn về thể chất và thần kinh không thể hồi phục.

CANXI & VITAMIN D

Tâm điểm: Nếu nhu cầu hàng ngày của canxi không được đáp ứng đủ, canxi sẽ được lấy từ xương của mẹ, điều này có thể tăng nguy cơ gẫy xương và loãng xương cho người mẹ sau này.

Tâm điểm: Vitamin D có nhiều vai trò khác trong sự phát triển ngoài vai trò hình thành xương.

Canxi cần thiết cho sự hình thành xương và răng chắc khỏe và vì vậy cần thiết cho quá trình mang thai và cho con bú cho sự phát triển khỏe mạnh. Vì nhu cầu dinh dưỡng của trẻ được ưu tiên trong quá trình mang thai, nên thiếu hụt canxi trong giai đoạn này có thể làm tăng nguy cơ loãng xương ở người mẹ sau này. Vitamin D giúp hấp thu canxi trong ruột non, và điều hoà việc phân phối canxi trong cơ thể mẹ và thai nhi. Vitamin D đảm bảo rằng canxi có đủ cho việc xây dựng bộ xương chắc khỏe. Thiếu canxi và/hoặc vitamin D có thể dẫn đến dị dạng xương, giòn xương và bệnh còi xương.

Có lẽ điều mà bạn không biết là vitamin D còn có rất nhiều vai trò khác trong quá trình phát triển bên cạnh vai trò hình thành xương. Vai trò này gồm cả điều hoà sự tăng trưởng và hoạt động của tế bào cũng như điều hoà sự chuyển hóa và hệ miễn dịch. Các nghiên cứu gần đây cho thấy thiếu hụt vitamin D ở mẹ có thể làm tăng các biến chứng như cân nặng khi sinh thấp, khuyết nhược nhận thức thần kinh, bệnh tự miễn, nhiễm trùng và tăng nguy cơ mắc các bệnh đa xơ cứng ở trẻ, ung thư, đái tháo đường loại I, và bệnh tâm thần phân liệt trong cuộc sống sau này.

Ngoài việc giúp cho sự phát triển của con bạn, bổ sung canxi và vitamin D còn có thể có lợi cho sức khỏe của bạn trong giai đoạn này vì thiếu hụt canxi và vitamin D có thể dẫn đến tăng nguy cơ bị đái tháo đường trong thai kỳ và tiền sản giật, mà có thể quay ngược lại ảnh hưởng đến sức khỏe của con bạn.

SẮT

Tâm điểm: Phụ nữ mang thai cần nhiều sắt hơn bất kỳ người nào hoặc giai đoạn nào khác trong cuộc đời, kể cả nam giới!

Nhu cầu về sắt trong chế độ ăn tăng tới 50% trong thai kỳ**

Sắt là chất dinh dưỡng số một bị thiếu hụt trên thế giới và khá phổ biến ở hầu hết phụ nữ. Tình trạng sắt sẽ trở nên đặc biệt quan trọng khi người phụ nữ có thai vì nhu cầu chất dinh dưỡng này tăng ở mức cao hơn cả lượng mà người đàn ông trưởng thành yêu cầu. Lý do mà sắt cần nhiều như vậy là để giúp tăng thể tích máu cần để phát triển thai nhi và tuần hoàn máu qua nhau thai. Sắt cần cho sự sản xuất haemoglobin, một protein vận chuyển oxy đi khắp cơ thể và tới thai nhi đang phát triển. Càng nhiều sắt có nghĩa là có càng nhiều haemoglobin được sản xuất, dẫn tới việc ôxy được vận chuyển nhiều hơn tới thai nhi. Ngược lại, nếu tình trạng sắt mà thấp, thì nó có thể làm giảm lượng ôxy vận chuyển đến thai nhi, có thể dẫn tới sinh non, hạn chế sự tăng trưởng trong tử cung và cân năng khi sinh thấp. Nó cũng giữ một vai trò trong sự phát triển của não bộ, vì vậy thiếu hụt sắt ở người mẹ cũng được cho là nguyên nhân dẫn đến suy yếu não của thai nhi.

Cùng với axit folic, sắt là dưỡng chất được bổ sung nhiều nhất trong khi mang thai vì vai trò của nó trong suốt chiều dài thai kỳ. Tuy nhiên, sắt được hấp thu kém trong ruột non, đây chính là một trong những nguyên nhân chính làm cho chứng thiếu hụt sắt khá phổ biến. Để ngăn chặn vấn đề này, PM Procare cũng có chứa vitamin C và betacarotene, hai dưỡng chất mà nếu bổ sung cùng với sắt sẽ làm tăng đáng kể lượng sắt được hấp thu trong cơ thể.

MAGIÊ

Tâm điểm: Hơn 300 phản ứng trong cơ thể có liên quan đến magiê.

Nhu cầu về magiê qua chế độ ăn tăng 13% trong khi mang thai ** và tăng 23% trong thời gian cho con bú *

Magiê là một dưỡng chất quan trọng giúp xây dựng và phục hồi các mô của cơ thể. Nó kết hợp với canxi và vitamin D tham gia vào quá trình hình thành xương và phát triển cơ. Thêm vào đó, magiê cần cho sự hình thành protein và axit béo để hỗ trợ sự tạo thành các cơ quan (phát triển các cơ quan) và cũng góp phần điều hoà nhịp tim và các đường dẫn chuyển hoá khác nhau. Lượng magiê thấp trong khi mang thai và cho con bú có thể dẫn tới chứng tiền sản giật và hạn chế sự tăng trưởng của thai nhi / trẻ sơ sinh. Vì vậy điều quan trọng là phải duy trì cung cấp magiê đầy đủ và thường xuyên trong thời gian mang thai và cho con bú.

KẼM

Tâm điểm: Kẽm cần cho mọi giai đoạn của quá trình phát triển; từ tinh dịch và trứng đến hợp tử, phôi thai, thai nhi và trẻ sơ sinh.

Nhu cầu hàng ngày của kẽm tăng đến 104% trong khi mang thai và 94% trong thời gian cho con bú *

Hơn 300 enzyme trong cơ thể trông cậy vào kẽm để hoạt động, trong đó có rất nhiều enzyme giữ vai trò cốt yếu đối với sự tăng trưởng và phát triển của tế bào. Vì vậy kẽm cần cho giai đoạn trước, trong và sau khi mang thai. Một số vai trò quan trọng của kẽm có liên quan đến sự phân chia tế bào trong các giai đoạn đầu của quá trình phát triển (hợp tử và phôi thai), sự tích luỹ của khối mô của cơ thể trong quá trình tạo thành các cơ quan và sự kích thích hình thành xương trong giai đoạn bào

Để nhấn mạnh tầm quan trọng của kẽm trong khi mang thai và cho con bú, Tổ chức Y tế Thế giới khuyến cáo phụ nữ nên tăng gấp đôi lượng bổ sung kẽm hàng ngày vào ba tháng cuối của thai kỳ và ba tháng đầu cho con bú. Mặc dù chứng thiếu hụt kẽm khá phổ biến ở phụ nữ trong độ tuổi sinh sản, nhưng thậm chí sẽ còn có thể có nhiều phụ nữ hơn nữa bị chứng thiếu hụt kẽm từ nhẹ đến trung bình vì họ thấy khó có thể đáp ứng được nhu cầu tăng thêm chỉ qua chế độ ăn. Không có đủ kẽm trong thời gian mang thai và / hoặc trong thời gian cho con bú có thể dẫn tới sinh non, cân nặng khi sinh thấp và hạn chế sự tăng trưởng

BETACAROTENE (RETINOL)

Tâm điểm: Betacarotene là một nguồn cung cấp retinol an toàn hơn vitamin A trong thời gian mang thai.

Nhu cầu hàng ngày về retinol tăng 37% trong khi mang thai và 67% trong thời gian cho con bú *

Retinol (vitamin A) cần thiết cho sự phát triển thị lực và sức khoẻ của mắt. Nói một cách rõ ràng hơn là võng mạc cần nó cho khả năng hấp thu ánh sáng, cần thiết để nhìn khi ánh sáng yếu (buổi tối) và thấy được màu sắc. Chứng thiếu hụt retinol là khá phổ biến và có thể ảnh hưởng nghiêm trọng tới trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ. Nó là một trong những nguyên nhân chính của chứng đui mù, đặc biệt ở Đông Nam Á và Châu Phi và gây tử vong rất nhiều trẻ dưới 5 tuổi ở các nước đang phát triển. Chứng quáng gà và các chứng suy yếu thị lực khác là các hậu quả phổ biến của việc thiếu hụt retinol trong chế độ ăn của người mẹ. Giai đoạn đang cho con bú là một giai đoạn quyết định trong quá trình phát triển thị lực, vì vậy nhu cầu retinol sẽ ở đỉnh cao nhất khi mắt trẻ sơ sinh mở và hoạt động.

Retinol cũng cần cho việc xây dựng một hệ miễn dịch bền vững và làn da và màng nhầy khoẻ mạnh. Nó sử dụng các đặc tính chống ôxy hoá và điều hoà gien để hỗ trợ trong các hoạt động chuyển hoá khác nhau. Lượng dung nạp retinol thấp trong khi mang thai và cho con bú cũng có thể dẫn đến sự suy yếu miễn dịch (tăng nguy cơ nhiễm trùng) và các biến chứng về da và tóc.

Mặc dù retinol rất quan trọng, nhưng nếu có quá nhiều retinol (vượt quá lượng quy định) trong cơ thể thì có thể gây độc hại, làm tăng nguy cơ bị khuyết tật bẩm sinh. Tuy nhiên, lượng vượt quá này chỉ có thể đạt được khi phụ nữ dung các sản phẩm bổ sung vitamin A ở các liều cao (vượt quá khuyến cáo) hoặc ăn nhiều gan (nguồn dinh dưỡng đặc biệt giàu vitamin A). Vitamin A là một dạng tạo sẵn của retinol, vì vậy nếu bạn ăn quá nhiều, nó có thể bị giữ lại trong cơ thể và trở nên độc hại. Betacarotene (có trong PM Procare) là một dạng không hoạt động của retinol. Cơ thể sẽ biến đổi betacarotene sang retinol nếu cơ thể cần. Khi bạn có đủ retinol, cơ thể sẽ ngừng việc biến đổi betacarotene và bài tiết nó ra ngoài, vì vậy retinol không thể tích luỹ đến mức độc hại. Do đó, betacarotene là một dạng thay thế an toàn hơn cho các sản phẩm bổ sung vitamin A trong giai đoạn này.

CÁC VITAMIN NHÓM B (B1, B2, B3, B5, B6 & B12)

Tâm điểm: Các vitamin B cần phải được bổ sung hàng ngày vì chúng hoà tan trong nước và không được tích trữ trong cơ thể.

Nhu cầu hàng ngày của các vitamin nhóm B tăng lên trung bình 27% trong khi mang thai và 36% trong thời gian cho con bú *

Thiamine (B1), riboflavin (B2), niacin (B3), axit pantothenic (B5), pyridoxine (B6) và cobalamin (B12) tạo thành nhóm các vitamin B. Mỗi vitamin nhóm B đều có vai trò đặc biệt và chuyên dụng, cần thiết cho sự phát triển toàn diện và sự chuyển hoá của tế bào. Chúng là các đồng yếu tố hỗ trợ quá trình tổng hợp DNA, phân chia và sản xuất tế bào. Sự phân chia tế bào là thành phần chính của sự phát triển; nó là cách mà một hợp tử đơn bào (trứng được thụ tinh) sao chép thành hàng tỉ tế bào để trở thành một em bé sơ sinh. Việc cung cấp tốt các vitamin B là cần thiết để đảm bảo cho quá trình phát triển khoẻ mạnh, bình thường. Đây là lý do tại sao nhu cầu hàng ngày của các vitamin B tăng trong suốt khoảng thời gian mang thai và kéo dài suốt khoảng thời gian cho con bú.

Từ giai đoạn đầu mang thai, các vitamin B, đặc biệt là B6 và B12 đã cần để đáp ứng nhu cầu sản xuất hồng cầu tăng lên để phát triển hệ tuần hoàn (tuần hoàn nhau thai và thai nhi). Bổ sung đầy đủ các vitamin này giúp cho việc vận chuyển ôxy tới thai nhi đang phát triển, ngược lại việc thiếu hụt các vitamin này có thể dẫn tới chứng thiếu máu và làm giảm việc vận chuyển ôxy dẫn tới hạn chế sự tăng trưởng và các biến chứng khác. Các vitamin B có liên quan đến quá trình sản xuất và phân chia tất cả các loại tế bào như tế bào thần kinh, miễn dịch, biểu mô, máu, cơ, xương… do đó chúng đóng vai trò sống còn đối với tất cả các hệ cơ quan của cơ thể. Việc thiếu hụt các vitamin B trong khi mang thai và cho con bú có thể làm tăng nguy cơ tổn hại thần kinh, suy yếu miễn dịch và các bất thường khác nhau. Các vitamin B cũng giúp cho việc sản xuất năng lượng và giải phóng năng lượng từ thức ăn, giúp ích cho bạn bất cứ lúc nào bạn cảm thấy hơi mệt hoặc lờ phờ trong khi mang thai hoặc cho con bú.

VITAMIN C

Tâm điểm: Việc nấu nướng và chuẩn bị thức ăn có thể làm giảm hơn 50% lượng vitamin C trong thức ăn vì vitamin C dễ bị ảnh hưởng bởi không khí, nước và nhiệt độ.

Nhu cầu hàng ngày của vitamin C tăng 22% trong khi mang thai và 56% trong thời gian cho con bú *

Vitamin C là một đồng yếu tố với vài phản ứng chuyển hoá quan trọng trong cơ thể nhưng có lẽ nó được biết đến nhiều nhất với vai trò củng cố hệ miễn dịch. Đây là nhiệm vụ then chốt trong các giai đoạn đầu tiên sau khi sinh khi hệ miễn dịch còn đang phát triển. Vitamin C là một chất chống ôxy hoá mạnh giúp bảo vệ cả mẹ và em bé khỏi các sự phá huỷ của các gốc tự do. Vitamin C cũng cần để hồi phục vết thương và mô và hình thành collagen, một protein đem lại sự đàn hồi cho làn da và tính mềm dẻo cho xương. Vitamin C còn cần cho việc sản xuất thành phần quan trọng nhất của sự phát triển trong tử cung, đó chính là nhau thai. Thiếu vitamin C trong chế độ ăn của người mẹ có thể làm tổn thương đến quá trình sản xuất collagen và đến đáp ứng miễn dịch mạnh.

Khi dùng cùng với sắt, vitamin C có thể làm tăng đáng kể khả năng hấp thu của sắt, vì vậy vitamin C được cho là làm giảm nguy cơ mắc chứng thiếu máu do thiếu sắt và hỗ trợ việc vận chuyển ôxy tới thai nhi.

VITAMIN E

Tâm điểm: Vitamin E bị phá huỷ khi thức ăn được rán kỹ.

Nhu cầu hàng ngày của vitamin E tăng 57% trong thời gian cho con bú **

Vitamin E là một chất chống ôxy hoá mạnh giúp bảo vệ màng tế bào khỏi sự phá huỷ của các gốc tự do. Điều này rất quan trọng trong các giai đoạn quyết định của quá trình phát triển. Vitamin E cũng liên quan đến quá trình chuyển tín hiệu của tế bào (thông tin giữa các tế bào), biểu hiện gien và vài phản ứng enzyme. Mặc dù vitamin E là một dưỡng chất cần thiết trong suốt quá trình phát triển, nhưng nó đóng vai trò quyết định nhất ngay khi đứa trẻ được sinh ra. Sau khi sinh, em bé không còn có sự bảo vệ của tử cung nữa và phải tự lo liệu chống lại sự phơi nhiễm của môi trường bên ngoài. Các cơ quan như phổi, mắt và da tiếp xúc với không khí trong lần đầu tiên sẽ có nhiều nguy cơ bị tổn thương do ứng kích ôxy hoá. Trẻ sơ sinh vì vậy cần vitamin E để bảo vệ màng tế bào bị phơi nhiễm trong các cơ quan này. Nhu cầu dinh dưỡng về vitamin E của người mẹ tăng lên đáng kể trong thời gian cho con bú, để lượng vitamin E trong sữa mẹ tăng đủ để bảo vệ trẻ sơ sinh, cũng như đủ cung cấp cho các hoạt động chức năng bình thường hàng ngày của cơ thể.

 


*Lượng tăng lên dựa trên nhu cầu dinh dưỡng của một phụ nữ trưởng thành bình thường ở cùng độ tuổi và cân nặng theo các khuyến cáo của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO)

**Lượng tăng lên dựa trên nhu cầu dinh dưỡng của một phụ nữ trưởng thành bình thường ở cùng độ tuổi và cân nặng theo các khuyến cáo Hội đồng Nghiên cứu Y khoa & Sức khoẻ Quốc gia Australia (NHMRC) của Australia & New Zealand và Uỷ ban Dinh dưỡng & Thực phẩm Mỹ, Viện Y khoa (FNBIOM) của Mỹ. Các khuyến cáo của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) không lập ra cho dưỡng chất này.

 Để xem thêm về PM Procare có lợi cho bạn và con bạn như thế nào, xin nhấn vào đây
 

Chia sẻ bài viết:Share on Facebook0Tweet about this on TwitterShare on Google+0Email this to someoneBuffer this pageShare on LinkedIn0Digg thisShare on Reddit0