Tình trạng Vitamin D của người mẹ quyết định các biến số về xương ở trẻ sơ sinh

J Clin Endocrinol Metab. 2010 Feb 5. [Epub ahead of print]

Viljakainen HT, Saarnio E, Hytinantti T, Miettinen M, Surcel H, Mäkitie O, Andersson S, Laitinen K, Lamberg-Allardt C.

Tóm tắt: Vitamin D điều chỉnh 3% hệ gien của con người, bao gồm các tác động lên sức khoẻ xương trong suốt cuộc đời. Tình trạng vitamin D của người mẹ có thể xác định sự phát triển xương của thai nhi. Mục tiêu ở đây là nhằm xác định mối liên quan giữa tình trạng vitamin D của người mẹ và các biến số về xương của trẻ sơ sinh.

Đối tượng và Phương pháp: Ở một bệnh viện phụ sản, phụ nữ mang thai (n=125) tham gia nghiên cứu cắt ngang với việc theo dõi liên tục dọc thai kỳ. Các giá trị trung bình (độ lệch chuẩn (SD)) về tuổi, chỉ số khối cơ thể trước khi mang thai, cân nặng tăng lên khi mang thai, và tổng lượng cung cấp vitamin D ở người mẹ lần lượt là 31 (4) tuổi, 23.5 (3.7) kg/m (2), 13.1 (4.3) kg, và 14.3 (5.8) mug. Tất cả các trẻ đều sinh đủ tháng, 99% số trẻ tương ứng với tuổi thai, và 53% là con trai. Các mẫu máu được lấy từ các bà mẹ trong thời gian ba tuần đầu của thai kỳ và 2 ngày sau khi sinh và từ các dây rốn khi sinh để phân tích các chất ghi nhận 25-hydroxyvitamin D huyết thanh (S-25-OHD), PTH, và sự tái tạo xương. Các biến số của xương được đo bằng pQCT ở vị trí 20% của xương chày  trẻ sơ sinh ở thời điểm trung bình 10 (11) ngày sau khi sinh. Tình trạng xương được phân tích bằng một ngưỡng đơn 180mg/mm(3) để xác định tổng mật độ khoáng xương (BMD), trọng lượng khoáng xương (BMC), và diện tích tiết diện (CSA).

Kết quả: S-25-OHD trung bình lần lượt là 41.0 (13.6), 45.1 (11.9), và 50.7 (14.9)nmol/liter trong kỳ ba tháng đầu tiên, sau khi sinh và trong dây rốn. Giá trị trung vị của mọi người đối với S-25-OHD của kỳ ba tháng đầu và 2 ngày sau khi sinh là 42.6nmol/liter, được dùng như giới hạn để xác định hai nhóm có kích cỡ tương đương. Các nhóm đó được gọi là số trung vị dưới và số trung vị trên trong nghiên cứu. Số trung vị dưới của trẻ sơ sinh lớn hơn (P=0.05), và 60% là con trai. Trọng lượng khoáng xương của xương chày là dài hơn 0.047 (khoảng tin cậy 95%, 0.011 – 0.082) g/cm (P=0.01), và diện tích tiết diện là lớn hơn 12.3 (khoảng tin cậy 95%, 2.0 – 22.6)mm(2) (P=0.02), nhưng người ta không thấy có sự khác biệt về mật độ khoáng xương khi so sánh nhóm có số trung vị trên với nhóm có số trung vị dưới. Các kết quả này được điều chỉnh theo tỷ lệ cân nặng khi sinh của điểm Z khi mới sinh, chiều cao của người mẹ và tuổi sinh tại thời điểm đo. Người ta tìm thấy một mối tương quan quan trọng, rõ ràng giữa các chất ghi nhận quá trình tái tạo ở người mẹ ở các thời điểm khác nhau và nhóm số trung vị trên trong mối quan hệ này

Kết luận: Mặc dù tổng lượng cung cấp vitamin D trung bình giữa các bà mẹ đều đáp ứng khuyến cáo Nordic, nhưng có 71% bà mẹ và 15% trẻ sơ sinh bị thiếu hụt vitamin D trong thai kỳ. Kết quả của chúng tôi cho thấy tình trạng vitamin D của người mẹ có ảnh hưởng tới sự tích luỹ khoáng xương trong thời kỳ mang thai và ảnh hưởng tới kích cỡ xương. Chúng ta cần phải xem xét kỹ lưỡng hơn các khuyến cáo về chế độ dinh dưỡng hiện hành cho phụ nữ mang thai vì nó tác động lâu dài đến thể trạng của trẻ.

 

Chia sẻ bài viết:Share on Facebook0Tweet about this on TwitterShare on Google+0Email this to someoneBuffer this pageShare on LinkedIn0Digg thisShare on Reddit0