Vitamin K1 trong tuổi thơ ấu và trong suốt cuộc đời

Vitamin K1 được tổng hợp bởi các loại thực vật và rau xanh cung cấp cho con người nguồn vitamin K chính thông qua chế độ ăn. Vitamin K rất quan trọng đối với quá trình đông máu bình thường ở người và đối với việc duy trì độ chắc khoẻ của xương. Vai trò sinh học của nó là hoạt động như một đồng yếu tố đối với một phản ứng carboxyl hoá đặc hiệu mà biến đổi gốc glutamate (Glu) chọn lọc thành gốc gamma-carboxyglutamate (Gla).

Gan dự trữ khoảng 10% vitamin K1. Sự thiếu hụt vitamin K hoặc các rối loạn về chức năng gan, mà gây cản trở quá trình hấp thu vitamin K, có thể dẫn đến thiếu hụt các yếu tố đông máu, quá trình đông máu bị khiếm khuyết và gây ra chảy máu quá mức. Vitamin K1 cũng cần thiết đối với sức khoẻ của xương, thiếu vitamin K1 có thể dẫn đến chứng loãng xương.

Bệnh chảy máu do thiếu vitamin K (VKDB) – trẻ sơ sinh

Ở các trẻ từ sơ sinh đến 6 tháng tuổi, việc thiếu hụt vitamin K thường không phổ biến, nhưng nó đại diện cho một vấn đề y tế cộng đồng quan trọng khắp thế giới, đặc biệt là ở Đông Nam Á [1]. Việc tỉ lệ phát bệnh cao hơn ở châu Á, cao hơn khoảng 10 lần ở châu Âu đưa ra giả thuyết là có các yếu tố về gien hoặc môi trường làm cho dân số châu Á có khả năng mắc bệnh chảy máu do thiếu hụt vitamin K (VKDB) [1]. Hội chứng thiếu hụt được gọi là bệnh chảy máu do thiếu hụt vitamin K (VKDB); Nó có nguy cơ tử vong và tàn tật vĩnh viễn cao do xuất huyết nội sọ [1].

Thời gian khởi phát bệnh VKDB là không thể dự đoán trước được; ba hội chứng rõ ràng được phân loại là bệnh VKDB sớm, kinh điển và muộn.

Bảng 1: Sự phân loại của bệnh chảy máu do thiếu vitamin K của trẻ sơ sinh:

Hội chứng 

Thời gian phát bệnh  Các vị trí chảy máu phổ biến  Giải thích
VKDB sớm 0 – 24 giờ U máu đầu, nội sọ, trong lồng ngực, trong ổ bụng. Các thuốc của mẹ là nguyên nhân thường gặp (ví dụ như warfarin,  các thuốc chống co giật)
VKDB kinh điển 1 – 7 ngày Hệ tiêu hoá, da, mũi, bao quy đầu Chủ yếu là tự phát; các thuốc của mẹ thỉnh thoảng cũng là một nguyên nhân
VKDB muộn 1 – 12 tuần Nội sọ, da, hệ tiêu hoá Chủ yếu là tự phát, nhưng có thể là một biểu hiện của bệnh sẵn có từ trước (ví dụ như bệnh xơ nang, bệnh thiếu hụt kháng trypsin α-1, hẹp ống mật); một số mức độ của chứng ứ mật cũng thường xuyên xảy ra

 

VKDB muộn khác với dạng kinh điển vì nó có tỉ lệ tử vong hoặc nguy kịch và tổn hại não vĩnh viễn cao do xuất huyết nội sọ. Hơn 50% trẻ sơ sinh mắc VKDB muộn (1 tuần sau) xuất hiện chứng xuất huyết nội sọ (ICH) [2]. Nguyên nhân cơ bản của việc khởi phát muộn chứng VKDB là nồng độ các yếu tố đông máu tích cực II, VII, IX và X trong huyết tương không đủ.

Trong trường hợp thiếu dự phòng vitamin K, tỉ lệ phát bệnh VKDB muộn (trên 100.000 ca sinh) được ước tính là 4,4 ở Anh, 7,2 ở Đức và 4,2 – 7,8 ở Thái lan. Giống như châu Âu và Thái lan, một tỉ lệ phát bệnh VKDB muộn cao tương tự khi không có dự phòng vitamin K được ghi nhận ở một vài nước ở châu Á bao gồm Nhật bản, Việt nam và Trung quốc. Trong một nghiên cứu được tiến hành ở Việt nam [3], các nhà nghiên cứu đã phân tích tỉ lệ bệnh lưu hành của chứng xuất huyết nội sọ do VKDB khởi phát muộn ở Hà nội, Việt nam. Các ca xuất huyết nội sọ ở trẻ sơ sinh có độ tuổi từ 1 đến 13 tuần được thống kê trong vòng 5 năm (1995 – 1999) và bằng chứng về sự thiếu hụt vitamin K được thu thập. Số liệu này sau đó được sử dụng để so sánh với số liệu về VKDB ở những nước đã phát triển. Tỉ lệ phát bệnh ước tính của VKDB khởi phát muộn ở trẻ sơ sinh không nhận dự phòng, là cao, lần lượt là 142 và 81 trên 100.000 trẻ sinh ra ở các vùng nông thôn và thành thị. Tỷ lệ tử vong là 9%. Trong số những trẻ sơ sinh sống sót, 42% trẻ có di chứng về thần kinh khi chúng được ra viện.

Nguyên nhân của căn bệnh chết người này là gì? Nghiên cứu các ca cho thấy sự nghèo nàn trong chế độ ăn của người mẹ có thể dẫn đến chứng xuất huyết não của thai nhi [4]. Tuy nhiên, các nghiên cứu dịch tễ học đã nhận ra hai yếu tố nguy cơ chính đối với cả hai VKDB kinh điển và muộn là chế độ nuôi con chỉ bằng sữa mẹ và việc không thực hiện cung cấp dự phòng vitamin K. Nguy cơ tăng đối với những trẻ sơ sinh được nuôi bằng sữa mẹ khi so với những trẻ được nuôi bằng sữa ngoài rất có khả năng liên quan tới nồng độ vitamin K1 khá thấp trong sữa mẹ khi so với sữa bột cho trẻ sơ sinh.

Lượng Vitamin K của sữa mẹ và sữa bột cho trẻ sơ sinh

Nồng độ trung bình của vitamin K1 trong sữa non và sữa mẹ lần lượt là khoảng 2mcg/l và 1mcg/l [5]. Các mức vitamin K1 này thực chất thì thấp hơn so với sữa bò có chứa 60mcg/l và sữa bột dành cho trẻ sơ sinh mà những trẻ này có lượng bổ sung vitamin K trung bình khoảng 50mcg/ngày.

Bảng 2: So sánh lượng ăn trung bình và lượng Phylloquinone (vitamin K1) trong huyết tương ở những trẻ được nuôi bằng sữa mẹ và nuôi bằng sữa bột.

Tuổi (tuần) Lượng dùng Phylloquinone (µg/ngày) Phylloquinone huyết tương (µg/l)
Nuôi bằng sữa mẹ Nuôi bằng sữa bột Nuôi bằng sữa mẹ Nuôi bằng sữa bột
6 0,55 45,4 0,13 6,0
12 0,74 55,5 0,20 5,6
26 0,56 52,2 0,24 4,4

 

Đối với VKDB kinh điển, các nghiên cứu về sự thiếu hụt vitamin K cận lâm sàng cho rằng đó chính là do lượng tích luỹ của sữa mẹ thấp trong tuần đầu tiên của cuộc đời đã dẫn đến vấn đề này [6].

Người ta thấy rằng sự thiếu hụt vitamin K trầm trọng có liên quan tới lượng vitamin K vô cùng nhỏ của sữa mẹ ăn vào và những trẻ mà nhận được hơn 500mL tổng lượng sữa mẹ trong 3 ngày đầu tiên của cuộc đời cho thấy có sự thiếu hụt về vitamin K [7].

Đối với VKDB muộn, các yếu tố khác xem ra quan trọng hơn vì hội chứng thiếu hụt xuất hiện khi việc nuôi con bằng sữa mẹ đã được thiết lập và các bà mẹ của những trẻ bị ảnh hưởng dường như là có lượng vitamin K bình thường trong sữa của họ. Trong một số trường hợp, trẻ sơ sinh mà bị mắc bệnh xuất huyết muộn, được tìm thấy có những bất thường trong chức năng gan mà có thể ảnh hưởng đến quá trình sản xuất axit mật của họ và dẫn đến một mức độ của chứng kém hấp thu vitamin K. Mức độ của chứng ứ mật có thể là nhẹ và diễn biến của nó có thể thoáng qua và tự khỏi, tuy nhiên trẻ sơ sinh mà bị mắc bệnh này thì sẽ có nhu cầu tăng đối với vitamin K vì giảm hiệu quả hấp thu.

Vitamin K có thể được tăng lên nhờ việc bổ sung trong thời gian mang thai và cho con bú không?

Việc truyền vitamin K qua nhau thai từ mẹ sang trẻ sơ sinh là rất ít và nó có một lượng rất nhỏ trong sữa mẹ [8]. Trong một thử nghiệm lâm sàng khác [9], người ta thấy rằng các bà mẹ đang cho con bú mà nhận được phylloquinone qua đường uống, chỉ làm tăng một lượng nhỏ vitamin K trong huyết tương và sữa mẹ. Các nhà nghiên cứu cũng quan sát thấy rằng nồng độ phylloquinone huyết tương ở các trẻ sơ sinh được nuôi bằng sữa mẹ vẫn rất thấp (trung bình dưới 0,25ng/ml) qua 6 tháng đầu tiên của cuộc đời so với những trẻ được nuôi bằng sữa bột (4,39 đến 5,99ng/ml). Những trẻ được nuôi bằng sữa mẹ không nhận được lượng bổ sung vitamin K khuyến cáo qua sữa mẹ, do vậy rất cần phải thực hiện dự phòng vitamin K để ngăn ngừa chứng thiếu hụt vitamin K ở trẻ sơ sinh [8].

Tuy nhiên trong nhiều nghiên cứu gần đây, các nhà nghiên cứu đã tìm thấy rằng dự phòng ngay thời điểm sinh đối với chỉ riêng trẻ sơ sinh có thể không đủ nếu việc cung cấp vitamin K hàng ngày qua chế độ ăn của người mẹ là không đủ. Trên cơ sở phân tích các hồi tưởng về chế độ ăn, những đứa trẻ sơ sinh được nuôi bằng sữa mẹ có thể có lợi từ việc tăng bổ sung vitamin K cho mẹ (>1mcg/kg/ngày) trong thời gian mang thai và cho con bú [10]. Mặc dù các trẻ sơ sinh có tuổi thai nhỏ hơn 35 tuần dễ bị mắc xuất huyết quanh não thất – trong não thất (PIVH) (một phần được cho là do nồng độ thấp của các yếu tố đông máu phụ thuộc – Vitamin K), một nghiên cứu cho thấy rằng sử dụng vitamin K1 đối với các bà mẹ có thể dẫn đến cải thiện sự đông máu và có thể làm giảm tỉ lệ phát bệnh cũng như tính nghiêm trọng của PIVH [11].

Cuối cùng, trong khi vẫn còn thiếu những bằng chứng sâu hơn, người ta vẫn nhấn mạnh rằng:

  • Tất cả các phụ nữ mang thai và đang cho chon bú cần phải duy trì bổ sung lượng vitamin K vừa đủ (>1mcg/kg/ngày); và
  • Các bà mẹ cần phải xen lẫn giữa việc cho trẻ bú sữa mẹ và cho trẻ ăn sữa bột để đảm bảo cho em bé của họ thu được lượng vitamin K vừa đủ, trong trường hợp lượng sữa mẹ không đủ; và
  • Dự phòng vitamin K cần phải được cung cấp cho tất cả các trẻ sơ sinh hoặc cho các bà mẹ chỉ nuôi con bằng sữa mẹ.

Dự phòng vitamin K thường không chỉ định ngay khi sinh ở nhiều nước đang phát triển. Tổng tất cả các bằng chứng đều cho thấy rằng nếu không có dự phòng vitamin K, trẻ sơ sinh vẫn có một lượng nhỏ vitamin K nhưng sẽ có nguy cơ thực sự về tử vong, hoặc phải chịu tổn hại về não vĩnh viễn do thiếu vitamin K trong 6 tháng đầu tiên của cuộc đời.

Vitamin K và Sức khoẻ của Xương

Vitamin K giúp duy trì sức khoẻ của xương và nhiều bằng chứng đưa ra giả thuyết rằng tình trạng thiếu hụt vitamin K có thể là một yếu tố nguy cơ độc lập đối với việc mất xương thời kỳ hậu mãn kinh [12]. Vitamin K hoạt động như một đồng yếu tố trong quá trình carboxyl hoá hậu dịch mã của một số protein của xương, nhiều nhất là osteocalcin (ucOC) [12]. UcOC tuần hoàn là một chất ghi nhận nhạy cảm mà có thể được dùng để phản ánh tình trạng của vitamin K. Một số các nhà nghiên cứu đã chứng minh rằng nồng độ huyết thanh thấp của hoặc vitamin K hoặc ucOC có liên quan tới mật độ khoáng xương (BMD) thấp, vì vậy có nguy cơ cao đối với chứng gãy xương hông do loãng xương.

Có bằng chứng cho rằng vitamin K có ảnh hưởng tích cực lên sự cân bằng canxi trong cơ thể người. Trong một thử nghiệm lâm sàng [13], những người có chế độ ăn giàu vitamin K cho thấy có sự bài tiết canxi thấp hơn (tức là lượng canxi giữ lại tăng lên). Việc đồng sử dụng vitamin D và vitamin K1 có thể góp phần lớn vào việc giảm quá trình mất xương thời kỳ hậu mãn kinh ở vị trí cổ xương đùi [12]. Trong cùng một nghiên cứu [12], việc bổ sung thêm vitamin K cùng với vitamin D giúp làm giảm hơn 1,3% quá trình mất xương của cổ xương đùi so với việc bổ sung vitamin D mà không có vitamin K.

Vitamin K1 có trong PMNextG Cal và PMKiddiecal, 2 công thức dành cho xương phù hợp với mọi người ở mọi lứa tuổi, đặc biệt là phụ nữ mang thai và cho con bú và trẻ nhỏ. Xem thông tin về sản phẩm PMNextG Cal – Sức mạnh cho xương, mô và răng của bạn. Xem thông tin về sản phẩm PMKiddieCal – Viên nhai bổ sung canxi, photpho, vitamin D3, K1.

Tài liệu tham khảo

  1. A. Chuansumrit, T. Plueksacheeva, S. Hanpinitsak, S. Sangwarn, S. Chatvutinun, U. Suthutvoravut, Y. Herabutya, M.J. Shearer, Prevalence of subclinical vitamin K deficiency in Thai newborns: relationship to maternal phylloquinone intakes and delivery risk. Arch Dis Child Fetal Neonatal Ed 95 (2010) F104-108.
  2. P.M. Loughnan, P.N. McDougall, Epidemiology of late onset haemorrhagic disease: a pooled data analysis. J Paediatr Child Health 29 (1993) 177-181.
  3. N. Danielsson, D.P. Hoa, N.V. Thang, T. Vos, P.M. Loughnan, Intracranial haemorrhage due to late onset vitamin K deficiency bleeding in Hanoi province, Vietnam. Arch Dis Child Fetal Neonatal Ed 89 (2004) F546-550.
  4. H. Minami, M. Furuhashi, K. Minami, K. Miyazaki, K. Yoshida, K. Ishikawa, Fetal intraventricular bleeding possibly due to maternal vitamin K deficiency. Fetal Diagn Ther 24 (2008) 357-360.
  5. R. von Kries, M. Shearer, P.T. McCarthy, M. Haug, G. Harzer, U. Gobel, Vitamin K1 content of maternal milk: influence of the stage of lactation, lipid composition, and vitamin K1 supplements given to the mother. Pediatr Res 22 (1987) 513-517.
  6. M.J. Shearer, Vitamin K deficiency bleeding (VKDB) in early infancy. Blood Rev 23 (2009) 49-59.
  7. K. Motohara, I. Matsukane, F. Endo, Y. Kiyota, I. Matsuda, Relationship of milk intake and vitamin K supplementation to vitamin K status in newborns. Pediatrics 84 (1989) 90-93.
  8. F.R. Greer, Vitamin K status of lactating mothers and their infants. Acta Paediatr Suppl 88 (1999) 95-103.
  9. F.R. Greer, S. Marshall, J. Cherry, J.W. Suttie, Vitamin K status of lactating mothers, human milk, and breast-feeding infants. Pediatrics 88 (1991) 751-756.
  10. F.R. Greer, Are breast-fed infants vitamin K deficient? Adv Exp Med Biol 501 (2001) 391-395.
  11. J. Liu, Q. Wang, F. Gao, J.W. He, J.H. Zhao, Maternal antenatal administration of vitamin K1 results in increasing the activities of vitamin K-dependent coagulation factors in umbilical blood and in decreasing the incidence rate of periventricular-intraventricular hemorrhage in premature infants. J Perinat Med 34 (2006) 173-176.
  12. L.A. Braam, M.H. Knapen, P. Geusens, F. Brouns, K. Hamulyak, M.J. Gerichhausen, C. Vermeer, Vitamin K1 supplementation retards bone loss in postmenopausal women between 50 and 60 years of age. Calcif Tissue Int 73 (2003) 21-26.
  13. N. Sakamoto, T. Nishiike, H. Iguchi, K. Sakamoto, The effect of diet on blood vitamin K status and urinary mineral excretion assessed by a food questionnaire. Nutr Health 13 (1999) 1-10. 

 
 

Chia sẻ bài viết:Share on Facebook0Tweet about this on TwitterShare on Google+0Email this to someoneBuffer this pageShare on LinkedIn0Digg thisShare on Reddit0